Viêm gan C (Phần cuối)
Những người tái phát và không đáp ứng được điều trị như thế nào ?
Bệnh nhân được điều trị với interferon thường đơn thuần và bị tái phát có thể được điều trị lại theo 2 chế độ. Nhưng chế độ này hoặc là 24 tuần bằng Rebetron kết hợp (SR 48%) hay 48 tuần điều trị Infergen (15mg 3 lần/tuần) (SR 58%). Cả 2 dạng trên đều được chấp nhận đối với điều trị cho người bị tái phát. Hơn nữa, đối với bệnh nhân tái phát sau điều trị Rebetron kết hợp và rồi dùng Infergen (15mg) hằng ngày có thể đạt kết quả SR 50%. Dĩ nhiên, sẽ có những quan tâm đặc biệt trong nghiên cứu (từ kết quả của nghiên cứu mới) về hiệu quả của interferon biến đổi kết hợp ribavirin trong điều trị bệnh nhân tái phát sau liệu pháp Rebetron.
Những người không đáp ứng với liệu pháp interferon đặt ra một thử thách lâm sàng khó khăn hơn những người tái phát. Cho đến nay, không có 1 chế độ điều trị hiệu quả đáng kể nào phát hiện ở bệnh nhân này. Tái điều trị với liều interferon chuẩn đơn thuần cho thấy không ích gì. Liều cao hơn cho 1 kết quả khác nhau và làm tăng tác dụng phụ. Tái điều trị với Rebetron và Infergen liều cao đạt SR chỉ 15%. Những dữ liệu dùng interferon biến đổi kết hợp ribavirin trong tái điều trị sẽ sớm ứng dụng từ thử nghiệm lâm sàng. Ngoài ra, NIH đảm bảo thử nghiệm gọi là HALT C, hiện đang điều tra nghiên cứu lợi ích tiềm tàng của liệu pháp kháng virus duy trì kéo dài ở người không đáp ứng.
Những người bị viêm gan siêu vi C cấp có nên được điều trị không ?
Câu trả lời ngắn gọn là có. Khoảng 85% bệnh nhân viêm gan siêu vi C cấp tiến triển thành viêm gan mạn. Do đó, mục đích điều trị kháng virus ở bệnh nhân viêm gan siêu vi C cấp là ngăn ngừa nhiễm trùng thành mạn tính. Mặt khác, không có một điều trị chuẩn và hiệu quả nào cho viêm gan siêu vi C cấp.
Hầu hết các nghiên cứu về viêm gan siêu vi C cấp cách đây trên 10 năm đều hướng dẫn dùng interferon thường 3 lần/tuần. Từ những dữ liệu này, người ta đề nghị nên điều trị ít nhất 6 tháng điều trị interferon. Người ta nhận thấy 60 đến 80% bệnh nhân đáp ứng duy trì ở những người viêm gan siêu vi C cấp có điều trị. Do đó, ở thời điểm này, cần có ý thức điều trị bệnh nhân viêm gan siêu vi C cấp ít nhất 6 tháng với interferon biến đổi có hay không kèm ribavirin.
Tác dụng phụ của điều trị HCV là gì ?
Triệu chứng giống như cúm (giảm đi nhờ acetaminophen/Tylenol), rụng tóc, trầm cảm là những tác dụng phụ thường gặp của Interferon. Các triệu chứng này thường giảm đi sau vài tuần đầu điều trị và không nặng thêm khi thêm ribavirin. Tác dụng phụ ít gặp hơn là thiếu máu và giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu và giảm chức năng tuyến giáp. Tử vong rất hiếm và nếu có nguyên nhân chính là do suy gan cấp ở bệnh nhân có xơ gan.
Vài tác dụng phụ phát hiện khi thêm ribavirin với interferon bao gồm : ói mửa, ho, khó thở, nổi ban, ngứa, mất ngủ, và chán ăn. Ribavirin cũng gây thiếu máu do huỷ hồng cầu. Thiếu máu này thường nhẹ nhưng có thể có ý nghĩa lâm sàng. Tình trạng này cải thiện với giảm liều và hiếm khi ngưng ribavirin. Ribavirin cũng có thể tích lũy ở tinh hoàn và buồng trứng gây khuyết tật bẩm sinh trên động vật. Mặc dù chưa ghi nhận được di tật bẩm sinh nào ở người, cả nam lẫn người nữ nên dùng phương pháp ngừa thai để tránh có thai trong và ít nhất 6 tháng điều trị ribavirin.
Trong nghiên cứu so sánh song song giữa interferon biến đổi và interferon thường, tác dụng phụ là như nhau. Do đó, người ta vẫn giữ lý lẽ rằng tác dụng phụ của rebetron đối với interferon biến đổi kết hợp ribavirin có thể so sánh được.
Về ghép gan ở bệnh nhân viêm gan siêu vi C ?
Bệnh gan giai đoạn cuối (với biến chứng ) liên quan nhiễm viêm gan siêu vi C mạn là lý do ghép gan hàng đầu ở Mỹ hiện nay. Tuy nhiên, tái nhiễm HCV thường phổ biến sau ghép gan do bệnh gan. Thật vậy, khoảng 25 % bệnh nhân bị viêm gan lại (trên sinh thiết gan) trên gan mới ghép. Ngoài ra, những bệnh nhân này với viêm gan tái phát sẽ tiến triển thành xơ gan trong vòng 5 năm sau ghép.
Vài bệnh nhân tiến triển bệnh gan nặng thật sự với vàng da đậm một thời gian ngắn sau ghép. Hai tình huống có thể dẫn đến bệnh gan tái phát nặng này : một là số lượng virus cao trong máu lúc ghép; hai là tai biến trong giai đoạn thải ghép cấp sau ghép. Giai đoạn thải ghép này đòi hỏi điều trị steroid, mà chính nó làm tăng sự sinh sản của virus. Vài trung tâm thấy rằng bệnh nhân nhiễm genotype 1b thường dễ tái nhiễm HCV nặng sau ghép, nhưng những trung tâm khác lại phản đối nhận xét này.
Bất kể những phát hiện về tái nhiễm này, chỉ số sống 5 năm ở bệnh nhân viêm gan siêu vi C có thể so sánh với chỉ số sống ở bệnh nhân ghép gan vì bất kỳ bệnh lý gan. Mặc dù vậy, suy gan ghép do tái nhiễm HCV là lý do số 1 để tái ghép.
Nghiên cứu tìm cách phòng ngừa và điều trị tái nhiễm HCV với Rebetron hay interferon đơn thuần hay kết hợp ribavirin đang được thực hiện. Tuy nhiên, có những lo ngại rằng interferon là chất miễn dịch thêm vào, nó có thể gây ra hay thúc đẩy thải gan ghép. Hơn nữa, interferon không được dung nạp tốt bởi bệnh nhân đang được ghép và dùng nhiều loại thuốc khác nhau.
Những nghiên cứu gần đây và tương lai về viêm gan siêu vi C nói gì ?
Vì ý thức nhiễm viêm gan siêu vi C tăng lên, ngày càng nhiều bệnh nhân được chẩn đoán bị bệnh này. Những lĩnh vực chính của những nghiên cứu gần đây liên quan viêm gan siêu vi C gồm chẩn đoán, diễn tíến tự nhiên, điều trị và phát triển vaccine.
Chẩn đoán :
Nhiều xét nghiệm chính xác hơn để bảo đảm mẫu máu truyền an toàn. Trong vài năm tới, xét nghiệm acid nucleic nhạy hơn, như xét nghiệm chuyển mã trung gian (TMA), sẽ được sử dụng thường quy trong tầm soát và chẩn đoán HCV.
Diễn tiến tự nhiên :
Thách thức ở đây là phân biệt giữa những người viêm gan siêu vi C không triệu chứng, không tiến triển với những người có tiến triển đến xơ gan và biến chứng của nó. Để phân biệt đòi hỏi nghiên cứu dịch tễ học lâu dài cũng như hiểu biết hơn về đặc tính sinh học của HCV và đáp ứng miễn dịch của cơ thể đối với virus này.
Điều trị :
Điều trị thành công có thể đạt được là >80% bệnh nhân nhiễm genotype 2 hay 3. Bệnh nhân nhiễm genotype 1 hay những người thất bại với interferon (tái phát, đặc biệt là không đáp ứng) tuy nhiên vẫn còn là thách thức. Thật ra, những bệnh nhân này tạo thành nhóm cần điều trị hiện nay. Trong tương lai gần, interferon vẫn là liệu pháp nòng cốt đối với HCV. Trên thực tế, interferon biến đổi và ribavirin đại diện cho thành tựu to lớn trong điều trị HCV.
Thử nghiệm đang thực hiện với các thuốc kết hợp khác. Những thuốc kết hợp này gồm interferon biến đổi +ribavirin+ amantadine (Symmetrel, một yếu tố kháng virus dành cho cúm); interferon biến đổi + ribavirin+ mycophenylate mofetil (Cellcept, thuốc kháng thải ghép); và interferon biến đổi + thysmosin (protein tuyến ức có thể làm tăng hệ thống miễn dịch).
Những thành phần đặc biệt gây trở ngại quá trình sinh sản của HCV vẫn đang nghiên cứu (Xem phần sinh học của HCV). Những thành phần này bao gồm các yếu tố ức chế protein của HCV (ví dụ enzyme polymerase), mà những protein này cần cho sự phát triển bình thường của virus. Một nhóm yếu tố khác đang nghiên cứu gọi là ribozyme, chúng tạo bởi chất liệu di truyền trong trường hợp này là RNA. Ribozyme sẽ ngăn chặn vòng đời của HCV bằng cách cắt và ghép các chất liệu di truyền của virus. Nghiên cứu ribozyme vẫn đang thực hiện ở người.
Phát triển vaccine :
Phát triển vaccine thành công để bảo vệ chống lại HCV rất khó. Như đã giải thích từ trước, lý do của khó khăn này là khả năng đột biến (tự thay đổi) của virus tránh phản ứng miễn dịch của cơ thể. Nên nhớ rằng chất liệu di tryền của các HCV có thể khác nhau. Thách thức đối với các nhà nghiên cứu là tìm ra phần bảo tồn của virus (phần không thay đổi trong những HCV khác nhau). Những mảnh virus bảo tồn này có thể làm cho các virus còn lại có thể bị tổn thương trước tế bào miễn dịch.
Sơ lược về viêm gan siêu vi C
Ở Mỹ, nhiễm HCV là nguyên nhân thường gặp nhất của viêm gan mạn và biến chứng xơ gan do HCV là lý do thường gặp của ghép gan.
HCV là một trong nhiều loại virus (A,B,C,D và E) có thể gây viêm gan. HCV khác với các virus này.
Một trong những vấn đề chính của HCV là 85% người nhiễm lần đầu (cấp tính) sẽ trở thành mạn tính. Khoảng 1/3 bệnh nhân nhiễm HCV mạn tính sẽ tiến triển thành xơ gan.
HCV được lây truyền qua máu. Lạm dụng thuốc tiêm tĩnh mạch là phương thức lây truyền phổ biến nhất, trong khi nguy cơ lây qua quan hệ tình dục là rất thấp.
Thông thường bệnh nhân không có triệu chứng cho đến khi tiến triển đến có xơ gan. Tuy nhiên, vài bệnh nhân chỉ mệt mỏi và không có triệu chứng đặc hiệu khi không có xơ gan. Một ít bệnh nhân có triệu chứng ngoài gan.
Viêm gan siêu vi C được chẩn đoán bằng xét nghiệm kháng thể kháng HCV, mà chẩn đoán được khẳng định bởi xét nghiệm dựa trên acid nucleic của virus. Số lượng virus không tương xứng với độ nặng của bệnh.
Sinh thiết gan đã từng dùng để đánh giá tổn thương gan (tổn thương tế bào gan và sẹo) và quan trọng trong tiên lượng và lên kế hoạch điều trị.
Những tiến bộ đáng kể đã có trong điều trị viêm gan. Đối bệnh nhân nhiễm genotype 2 hay 3, điều trị bằng interferon (interferon biến đổi) kết hợp ribavirin có thể đạt kết quả trên 80% bệnh nhân.
Điều trị bệnh nhân nhiễm genotype 1 có mức độ điều trị thành công với interferon biến đổi với ribavirin thì chỉ <50%, vẫn còn là thách thức.
Điều trị được khuyến cáo đối với bệnh nhân có RNA-HCV có thể tìm thấy, có xét nghiệm men gan tăng hằng định và bằng chứng của sẹo và ít nhất là viêm trung bình trên sinh thiết gan nhưng không có dấu hiệu của suy gan.
Điều trị cải thiện được tình trạng viêm và sẹo gan ở người đáp ứng duy trì và đôi khi cũng có ở người đáp ứng tái phát và không đáp ứng.
Thử nghiệm lâm sàng đang được thực hiện để đánh giá sự kết hợp yếu tố kháng virus khác và interferon biến đổi trong điều trị viêm gan siêu vi C.
(Theo BSGĐ)
Bệnh nhân được điều trị với interferon thường đơn thuần và bị tái phát có thể được điều trị lại theo 2 chế độ. Nhưng chế độ này hoặc là 24 tuần bằng Rebetron kết hợp (SR 48%) hay 48 tuần điều trị Infergen (15mg 3 lần/tuần) (SR 58%). Cả 2 dạng trên đều được chấp nhận đối với điều trị cho người bị tái phát. Hơn nữa, đối với bệnh nhân tái phát sau điều trị Rebetron kết hợp và rồi dùng Infergen (15mg) hằng ngày có thể đạt kết quả SR 50%. Dĩ nhiên, sẽ có những quan tâm đặc biệt trong nghiên cứu (từ kết quả của nghiên cứu mới) về hiệu quả của interferon biến đổi kết hợp ribavirin trong điều trị bệnh nhân tái phát sau liệu pháp Rebetron.
Những người không đáp ứng với liệu pháp interferon đặt ra một thử thách lâm sàng khó khăn hơn những người tái phát. Cho đến nay, không có 1 chế độ điều trị hiệu quả đáng kể nào phát hiện ở bệnh nhân này. Tái điều trị với liều interferon chuẩn đơn thuần cho thấy không ích gì. Liều cao hơn cho 1 kết quả khác nhau và làm tăng tác dụng phụ. Tái điều trị với Rebetron và Infergen liều cao đạt SR chỉ 15%. Những dữ liệu dùng interferon biến đổi kết hợp ribavirin trong tái điều trị sẽ sớm ứng dụng từ thử nghiệm lâm sàng. Ngoài ra, NIH đảm bảo thử nghiệm gọi là HALT C, hiện đang điều tra nghiên cứu lợi ích tiềm tàng của liệu pháp kháng virus duy trì kéo dài ở người không đáp ứng.
Những người bị viêm gan siêu vi C cấp có nên được điều trị không ?
Câu trả lời ngắn gọn là có. Khoảng 85% bệnh nhân viêm gan siêu vi C cấp tiến triển thành viêm gan mạn. Do đó, mục đích điều trị kháng virus ở bệnh nhân viêm gan siêu vi C cấp là ngăn ngừa nhiễm trùng thành mạn tính. Mặt khác, không có một điều trị chuẩn và hiệu quả nào cho viêm gan siêu vi C cấp.
Hầu hết các nghiên cứu về viêm gan siêu vi C cấp cách đây trên 10 năm đều hướng dẫn dùng interferon thường 3 lần/tuần. Từ những dữ liệu này, người ta đề nghị nên điều trị ít nhất 6 tháng điều trị interferon. Người ta nhận thấy 60 đến 80% bệnh nhân đáp ứng duy trì ở những người viêm gan siêu vi C cấp có điều trị. Do đó, ở thời điểm này, cần có ý thức điều trị bệnh nhân viêm gan siêu vi C cấp ít nhất 6 tháng với interferon biến đổi có hay không kèm ribavirin.
Tác dụng phụ của điều trị HCV là gì ?
Triệu chứng giống như cúm (giảm đi nhờ acetaminophen/Tylenol), rụng tóc, trầm cảm là những tác dụng phụ thường gặp của Interferon. Các triệu chứng này thường giảm đi sau vài tuần đầu điều trị và không nặng thêm khi thêm ribavirin. Tác dụng phụ ít gặp hơn là thiếu máu và giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu và giảm chức năng tuyến giáp. Tử vong rất hiếm và nếu có nguyên nhân chính là do suy gan cấp ở bệnh nhân có xơ gan.
Vài tác dụng phụ phát hiện khi thêm ribavirin với interferon bao gồm : ói mửa, ho, khó thở, nổi ban, ngứa, mất ngủ, và chán ăn. Ribavirin cũng gây thiếu máu do huỷ hồng cầu. Thiếu máu này thường nhẹ nhưng có thể có ý nghĩa lâm sàng. Tình trạng này cải thiện với giảm liều và hiếm khi ngưng ribavirin. Ribavirin cũng có thể tích lũy ở tinh hoàn và buồng trứng gây khuyết tật bẩm sinh trên động vật. Mặc dù chưa ghi nhận được di tật bẩm sinh nào ở người, cả nam lẫn người nữ nên dùng phương pháp ngừa thai để tránh có thai trong và ít nhất 6 tháng điều trị ribavirin.
Trong nghiên cứu so sánh song song giữa interferon biến đổi và interferon thường, tác dụng phụ là như nhau. Do đó, người ta vẫn giữ lý lẽ rằng tác dụng phụ của rebetron đối với interferon biến đổi kết hợp ribavirin có thể so sánh được.
Về ghép gan ở bệnh nhân viêm gan siêu vi C ?
Bệnh gan giai đoạn cuối (với biến chứng ) liên quan nhiễm viêm gan siêu vi C mạn là lý do ghép gan hàng đầu ở Mỹ hiện nay. Tuy nhiên, tái nhiễm HCV thường phổ biến sau ghép gan do bệnh gan. Thật vậy, khoảng 25 % bệnh nhân bị viêm gan lại (trên sinh thiết gan) trên gan mới ghép. Ngoài ra, những bệnh nhân này với viêm gan tái phát sẽ tiến triển thành xơ gan trong vòng 5 năm sau ghép.
Vài bệnh nhân tiến triển bệnh gan nặng thật sự với vàng da đậm một thời gian ngắn sau ghép. Hai tình huống có thể dẫn đến bệnh gan tái phát nặng này : một là số lượng virus cao trong máu lúc ghép; hai là tai biến trong giai đoạn thải ghép cấp sau ghép. Giai đoạn thải ghép này đòi hỏi điều trị steroid, mà chính nó làm tăng sự sinh sản của virus. Vài trung tâm thấy rằng bệnh nhân nhiễm genotype 1b thường dễ tái nhiễm HCV nặng sau ghép, nhưng những trung tâm khác lại phản đối nhận xét này.
Bất kể những phát hiện về tái nhiễm này, chỉ số sống 5 năm ở bệnh nhân viêm gan siêu vi C có thể so sánh với chỉ số sống ở bệnh nhân ghép gan vì bất kỳ bệnh lý gan. Mặc dù vậy, suy gan ghép do tái nhiễm HCV là lý do số 1 để tái ghép.
Nghiên cứu tìm cách phòng ngừa và điều trị tái nhiễm HCV với Rebetron hay interferon đơn thuần hay kết hợp ribavirin đang được thực hiện. Tuy nhiên, có những lo ngại rằng interferon là chất miễn dịch thêm vào, nó có thể gây ra hay thúc đẩy thải gan ghép. Hơn nữa, interferon không được dung nạp tốt bởi bệnh nhân đang được ghép và dùng nhiều loại thuốc khác nhau.
Những nghiên cứu gần đây và tương lai về viêm gan siêu vi C nói gì ?
Vì ý thức nhiễm viêm gan siêu vi C tăng lên, ngày càng nhiều bệnh nhân được chẩn đoán bị bệnh này. Những lĩnh vực chính của những nghiên cứu gần đây liên quan viêm gan siêu vi C gồm chẩn đoán, diễn tíến tự nhiên, điều trị và phát triển vaccine.
Chẩn đoán :
Nhiều xét nghiệm chính xác hơn để bảo đảm mẫu máu truyền an toàn. Trong vài năm tới, xét nghiệm acid nucleic nhạy hơn, như xét nghiệm chuyển mã trung gian (TMA), sẽ được sử dụng thường quy trong tầm soát và chẩn đoán HCV.
Diễn tiến tự nhiên :
Thách thức ở đây là phân biệt giữa những người viêm gan siêu vi C không triệu chứng, không tiến triển với những người có tiến triển đến xơ gan và biến chứng của nó. Để phân biệt đòi hỏi nghiên cứu dịch tễ học lâu dài cũng như hiểu biết hơn về đặc tính sinh học của HCV và đáp ứng miễn dịch của cơ thể đối với virus này.
Điều trị :
Điều trị thành công có thể đạt được là >80% bệnh nhân nhiễm genotype 2 hay 3. Bệnh nhân nhiễm genotype 1 hay những người thất bại với interferon (tái phát, đặc biệt là không đáp ứng) tuy nhiên vẫn còn là thách thức. Thật ra, những bệnh nhân này tạo thành nhóm cần điều trị hiện nay. Trong tương lai gần, interferon vẫn là liệu pháp nòng cốt đối với HCV. Trên thực tế, interferon biến đổi và ribavirin đại diện cho thành tựu to lớn trong điều trị HCV.
Thử nghiệm đang thực hiện với các thuốc kết hợp khác. Những thuốc kết hợp này gồm interferon biến đổi +ribavirin+ amantadine (Symmetrel, một yếu tố kháng virus dành cho cúm); interferon biến đổi + ribavirin+ mycophenylate mofetil (Cellcept, thuốc kháng thải ghép); và interferon biến đổi + thysmosin (protein tuyến ức có thể làm tăng hệ thống miễn dịch).
Những thành phần đặc biệt gây trở ngại quá trình sinh sản của HCV vẫn đang nghiên cứu (Xem phần sinh học của HCV). Những thành phần này bao gồm các yếu tố ức chế protein của HCV (ví dụ enzyme polymerase), mà những protein này cần cho sự phát triển bình thường của virus. Một nhóm yếu tố khác đang nghiên cứu gọi là ribozyme, chúng tạo bởi chất liệu di truyền trong trường hợp này là RNA. Ribozyme sẽ ngăn chặn vòng đời của HCV bằng cách cắt và ghép các chất liệu di truyền của virus. Nghiên cứu ribozyme vẫn đang thực hiện ở người.
Phát triển vaccine :
Phát triển vaccine thành công để bảo vệ chống lại HCV rất khó. Như đã giải thích từ trước, lý do của khó khăn này là khả năng đột biến (tự thay đổi) của virus tránh phản ứng miễn dịch của cơ thể. Nên nhớ rằng chất liệu di tryền của các HCV có thể khác nhau. Thách thức đối với các nhà nghiên cứu là tìm ra phần bảo tồn của virus (phần không thay đổi trong những HCV khác nhau). Những mảnh virus bảo tồn này có thể làm cho các virus còn lại có thể bị tổn thương trước tế bào miễn dịch.
Sơ lược về viêm gan siêu vi C
Ở Mỹ, nhiễm HCV là nguyên nhân thường gặp nhất của viêm gan mạn và biến chứng xơ gan do HCV là lý do thường gặp của ghép gan.
HCV là một trong nhiều loại virus (A,B,C,D và E) có thể gây viêm gan. HCV khác với các virus này.
Một trong những vấn đề chính của HCV là 85% người nhiễm lần đầu (cấp tính) sẽ trở thành mạn tính. Khoảng 1/3 bệnh nhân nhiễm HCV mạn tính sẽ tiến triển thành xơ gan.
HCV được lây truyền qua máu. Lạm dụng thuốc tiêm tĩnh mạch là phương thức lây truyền phổ biến nhất, trong khi nguy cơ lây qua quan hệ tình dục là rất thấp.
Thông thường bệnh nhân không có triệu chứng cho đến khi tiến triển đến có xơ gan. Tuy nhiên, vài bệnh nhân chỉ mệt mỏi và không có triệu chứng đặc hiệu khi không có xơ gan. Một ít bệnh nhân có triệu chứng ngoài gan.
Viêm gan siêu vi C được chẩn đoán bằng xét nghiệm kháng thể kháng HCV, mà chẩn đoán được khẳng định bởi xét nghiệm dựa trên acid nucleic của virus. Số lượng virus không tương xứng với độ nặng của bệnh.
Sinh thiết gan đã từng dùng để đánh giá tổn thương gan (tổn thương tế bào gan và sẹo) và quan trọng trong tiên lượng và lên kế hoạch điều trị.
Những tiến bộ đáng kể đã có trong điều trị viêm gan. Đối bệnh nhân nhiễm genotype 2 hay 3, điều trị bằng interferon (interferon biến đổi) kết hợp ribavirin có thể đạt kết quả trên 80% bệnh nhân.
Điều trị bệnh nhân nhiễm genotype 1 có mức độ điều trị thành công với interferon biến đổi với ribavirin thì chỉ <50%, vẫn còn là thách thức.
Điều trị được khuyến cáo đối với bệnh nhân có RNA-HCV có thể tìm thấy, có xét nghiệm men gan tăng hằng định và bằng chứng của sẹo và ít nhất là viêm trung bình trên sinh thiết gan nhưng không có dấu hiệu của suy gan.
Điều trị cải thiện được tình trạng viêm và sẹo gan ở người đáp ứng duy trì và đôi khi cũng có ở người đáp ứng tái phát và không đáp ứng.
Thử nghiệm lâm sàng đang được thực hiện để đánh giá sự kết hợp yếu tố kháng virus khác và interferon biến đổi trong điều trị viêm gan siêu vi C.
(Theo BSGĐ)



0 Response to "Viêm gan C (Phần cuối)"
Post a Comment