Thở cùng nhịp với trẻ thơ

Ngày tết, tại Bệnh viện (BV) Nhi Đồng 1 và Nhi Đồng 2 (TP.HCM) có hàng trăm bệnh nhi bị bệnh nặng phải nằm viện điều trị.
Gia đình các bé phấp phỏng lo âu, không được cùng người thân vui tết. Còn các y bác sĩ vì nhiệm vụ thiêng liêng cứu người cũng phải đón xuân trong BV.
Liên tục cấp cứu
19g tối 7-2 (mồng 1 tết), từ ngoài cổng BV Nhi Đồng I đã thấy ánh đèn từ phòng cấp cứu sáng trưng. Trong phòng, các bác sĩ (BS) đang hối hả cấp cứu bé P.T.N.Y. (6 tháng tuổi, Tây Ninh). Bé N.Y. nhập viện cấp cứu lúc 18g. Người bé nhỏ xíu, nằm bất động trên giường bệnh vì bị viêm phổi, bệnh tim bẩm sinh nặng (bất thường tĩnh mạch phổi về tim toàn phần, hở van ba lá, hở van động mạch, cao áp động mạch phổi…).
BS Nguyễn Minh Tiến - phó khoa hồi sức cấp cứu, BS Huyền, BS Phương, điều dưỡng Hồng…người thì bóp bóng giúp thở, người lo đặt ống nội khí quản, người xoa ấn tim ngoài lồng ngực, chích thuốc trợ tim…Những giọt mồ hôi rịn trên trán, trên áo các BS, điều dưỡng. Những ánh mắt chăm chú quan sát màn hình theo dõi độ bão hòa oxy trong máu và nhịp tim của bé N.Y.. Cả hai thông số cứ nhảy nhót lên xuống ở mức báo động, rồi tụt xuống và mất hẳn.
BS Huyền cố hết sức dùng hai tay liên tục xoa ấn tim ngoài lồng ngực cho bé N.Y.. Màn hình báo độ bão hòa oxy trong máu và nhịp tim đã lên được 81-176. Nhưng chưa đầy một phút sau các chỉ số này lại tụt xuống bằng 0. Không nản lòng, các BS vẫn tiếp tục các biện pháp hồi sức. Nhưng tình trạng bé vẫn không cải thiện. Các thông số cứ nằm bất động ở con số 0. Tất cả buồn bã nhìn nhau lắc đầu. Tôi cũng không nén được lòng mình khi thấy gương mặt bé cứ trắng bệch dần…
BS Huyền mời chị Nguyễn Thị Lộc - mẹ bé N.Y., vào phòng cấp cứu thông báo bé đã tử vong. Chị Lộc chạy vội ra ngoài òa khóc với chồng. Chị nói với tôi trong nước mắt, bé N.Y. bị bệnh tim bẩm sinh nặng, đã có chỉ định mổ. Chị đã vay mượn nhiều nơi để có đủ 2.500 USD đóng tiền mổ cho con ở Viện Tim TP.HCM. Tiền đóng đã gần hai tháng nhưng đợi hoài vẫn chưa đến ngày mổ.
Trong lúc các BS lo cấp cứu bé N.Y., tiếng còi xe cấp cứu từ ngoài cổng lại hối hả chạy vào. Một bé gái chưa đầy tuổi được Bệnh viện Đa khoa Phú Thọ (Q.Tân Phú) chuyển đến vì sốt cao, co giật. Các BS xoay qua thăm khám ngay cho bé. Ở giường bên cạnh, bé T.N. (6,5 tháng, Q.Bình Tân) cũng đang được theo dõi bệnh viêm màng não. BS Huyền cho biết chỉ hơn ba giờ vào ca trực, tua của chị đã tiếp nhận sáu bệnh nhân (BN) bị bệnh nặng.
23g cùng ngày, tại khoa cấp cứu BV Nhi Đồng 2 có bốn BN đang nằm điều trị. BS Bùi Văn Đỡ - phó khoa cấp cứu, cho biết chỉ trong nửa ngày khoa đã tiếp nhận cấp cứu 18 BN. Đáng thương nhất là bé Nguyễn Thị Thùy (14 tuổi, Q.4) bị phù não đã rơi vào hôn mê, phải thở máy. BS Đỡ bùi ngùi kể: “Bệnh của bé Thùy khó qua khỏi. Từ nhỏ bé đã thường xuyên bị chảy mủ lỗ tai. Do nhà quá nghèo, mẹ bé chưa bao giờ đưa con đi BV điều trị. Trước khi vào cấp cứu một tuần, bé có biểu hiện biến chứng lên não nhưng gia đình không biết. Đến chiều mồng 1 tết, khi bé lơ mơ, gọi hỏi không biết gì gia đình mới đưa đi cấp cứu…”.
Quá nhiều bệnh nặng
Trong khi đó tại khoa hồi sức tăng cường BV Nhi Đồng 1, tua trực gồm hai BS, năm điều dưỡng cũng luôn tất bật với 17 BN đang trong tình trạng “thập tử nhất sinh” từ nhiều tỉnh thành... chuyển tới.
Các BN này bị bệnh tim bẩm sinh phức tạp, lao phổi, sốt xuất huyết, xuất huyết tiêu hóa nặng, viêm phổi, tổn thương tủy, viêm phổi sinh non…đang phải thở máy. Mệt mỏi, phờ phạc bên mỗi giường bệnh là cha mẹ hoặc bà ngoại, bà nội của các BN. 21g chúng tôi đến khoa phỏng chỉnh hình. Tại đây có chín BN bị phỏng rất nặng không thể về nhà trong những ngày tết.
Ở khoa hồi sức sơ sinh, tua trực gồm chín BS, điều dưỡng cũng không ngơi tay với 20 trẻ sơ sinh trên dưới một tháng tuổi bị bệnh nặng. Đa số các bé đều phải thở máy. Có bé mới được phẫu thuật cấp cứu ngay chiều mồng 1 tết vì không có hậu môn bẩm sinh. Có bé bị viêm phúc mạc do vỡ dạ dày, bị teo thực quản bẩm sinh…
Dù đã 22g đêm nhưng các điều dưỡng vẫn liên tục đến từng giường bệnh, cần mẫn theo dõi các chỉ số sinh tồn của trẻ và ghi vào phiếu điều dưỡng. Trong khi đó, BS Chương - trưởng tua trực - đi từng giường bệnh khám cho BN. Thấy bụng bé Tuấn Cường (20 ngày tuổi) trướng căng, BS yêu cầu cho siêu âm ngay. Chỉ một chút sau, BS Nhật Thúy đưa máy vào tận giường siêu âm cho bé Cường. Lo cho bé Cường xong, BS Chương đứng rất lâu bóp bóng qua nội khí quản giúp thở cho một bé khác. Theo dõi chức năng thở của bé hồi lâu, BS Chương quay ra gọi điều dưỡng: “Chuẩn bị ngay một máy thở nhé”.
24g đêm mồng 1 tết chúng tôi có mặt ở khoa hồi sức BV Nhi Đồng 2. Trong phòng hồi sức ánh đèn sáng choang. Những chiếc áo xanh đi lại liên tục giữa các giường bệnh. BS Vũ Hiệp Phát - trưởng tua trực, cho biết tại khoa đang điều trị 18 bé sơ sinh bệnh nặng, trong đó có 11 ca phải thở máy. Sức khỏe của các bé hầu hết đều trong tình trạng “ngàn cân treo sợi tóc”.
Nhiều bé là trẻ sơ sinh non tháng, quá yếu (có sáu bé cân nặng dưới 1,3kg), là trẻ bị dị tật bẩm sinh phải mổ cấp cứu…Do các bé quá nhỏ, quá yếu, nên BS, điều dưỡng phải theo dõi, chăm sóc rất chặt chẽ. Tùy theo tình trạng bệnh của từng bé mà cứ mỗi 15-30 phút hay 2-3 giờ lại phải thăm khám một lần. Chỉ cần một bé có biểu hiện bất thường về sức khỏe, có nguy cơ tử vong là cả tua trực không ai có thể ngồi yên. BS Phát thuộc lòng tình trạng bệnh, ngày nhập viện của từng bé. Anh đưa tôi đến bên giường bệnh của một bé sơ sinh tên là Nguyễn Thị Hai 1, sinh ngày 13-1, bị gia đình bỏ rơi.
BS Phát cho biết Nguyễn Thị Hai là tên người mẹ. Người mẹ này sinh non hai bé có cân nặng 1.000g và 800g. Hai bé được dì đưa đến BV Nhi Đồng 2 rồi bỏ đi luôn tới nay không quay lại. Để phân biệt hai bé, các BS đã thêm vào số 1 và 2 sau tên mẹ các bé. Bé Hai 2 (800g) đã tử vong, còn bé Hai 1 vẫn đang được các y bác sĩ từng giờ nâng niu chăm sóc, từng ngày giành giật với tử thần để cứu mạng bé.
Ba mẹ có ở nhà không?
Hầu hết các BS, điều dưỡng mà tôi gặp ở BV Nhi Đồng 1 và Nhi Đồng 2 trong đêm trực mồng 1 tết đều có con nhỏ. Họ có bao nhiêu năm thâm niên công tác ở BV thì cũng có gần từng ấy năm trực cấp cứu trong những ngày tết. Nhiều người, cả hai vợ chồng đều là BS, có khi đi trực phải gửi các con sang nhà ngoại, nhà nội trông giùm.
BS Minh Tiến, phó khoa hồi sức cấp cứu BV Nhi Đồng 1, cho biết trực ở BV ngày tết anh rất nhớ con (anh có một con trai 12 tháng) nhưng nhìn các BN phải nằm BV điều trị không được ăn tết, nhìn ánh mắt thất thần của cha, mẹ các bé anh vẫn phải động viên, an ủi. Khi BN có tiến triển sức khỏe tốt, anh lại vội vàng thông báo cho người nhà để họ có thêm hi vọng.
BS Kim Ngân, khoa cấp cứu BV Nhi Đồng 2, có một bé trai 5 tuổi và một bé gái 3 tuổi. Chồng chị công tác ở BV Chấn thương chỉnh hình TP. Đã hai ngày vợ chồng chị không gặp nhau, vì anh trực BV ngày 30 tết, còn chị trực mồng 1. Các con chị đã quen với cảnh thường xuyên vắng mặt cha, hoặc mẹ ở nhà nên mỗi khi gặp cha mẹ các bé lại hỏi: hôm nay mẹ có về nhà không, hôm nay ba có ở nhà không? Khi chị nói phải đi trực, các bé thơ ngây hỏi tại sao phải đi trực? Những lúc đó, chị chỉ biết ôm con vào lòng, giải thích: “Nếu ba mẹ không đi trực, không có người khám bệnh cho BN…”.
Điều dưỡng Thúy Hồng, khoa phỏng chỉnh hình BV Nhi Đồng 2, có một con trai 8 tuổi, kể: bình thường mỗi tuần chị trực hai đêm, ngày mồng 1 tết thấy chị đi trực, con trai chị ỉu xìu: “Mẹ đi hoài, tết cũng không ở nhà với con. Con buồn lắm”. Thương con nhiều nhưng hình ảnh những BN bị phỏng nặng ở BV đã giúp chị quên đi tình cảm riêng của mình. “Các bé bị phỏng rất đau đớn. Mỗi khi thay băng các cháu sợ lắm. Chúng tôi phải cố gắng nhẹ nhàng chăm sóc các bé, hỏi thăm người nhà để họ bớt bị áp lực tinh thần trước tình cảnh bi đát của con mình” - chị Thúy Hồng tâm sự.
Gần 1g sáng mồng 2 tết tôi rời BV Nhi Đồng 2. Lòng thầm cảm ơn những y bác sĩ đã hi sinh những tình cảm riêng tư để cấp cứu, điều trị cho những BN bé bỏng. Tết đến, không chỉ gia đình BN, mà tất cả các thầy thuốc tôi gặp đều chỉ nói: “Cầu mong sang năm mới các BN mau hết bệnh để về nhà”.
(VNDOC 's Blog - Theo TT)
Thanh Hóa: Bé trai hai tháng tuổi biết nói

Trong những ngày qua, nhiều người dân địa phương đã kéo đến thôn 9, xã Quảng Đông, huyện Quảng Xương (Thanh Hóa) để xem mặt và nghe cháu Nguyễn Văn Tiến - con trai của vợ chồng anh Nguyễn Văn Lực và chị Nguyễn Thị Thủy (đều là nông dân) mới được hơn hai tháng tuổi biết nói.
Bé Tiến đang gọi "Mẹ ơi..."
Chị Thủy cho biết bé Tiến là con trai thứ hai trong gia đình, sinh ngày 23-10-2007 nặng 3,7 kg (lúc sinh). Hơn một tháng tuổi bé đã phát âm được từ “mẹ ơi”, đến nay bé gọi được “bố ơi”, “Lực ơi” hoặc “bố Lực”… Tiến phát triển bình thường, nhưng so với những đứa trẻ cùng tháng tuổi thì bé nhanh nhẹn, cứng cáp hơn, nhất là đôi mắt sáng và lanh lợi.
Trước sự chứng kiến của nhiều người và chúng tôi, bé Tiến đã nói được từ “Lực ơi”, “mẹ ơi”... Do hiếu kỳ, hiện rất nhiều người dân trong và ngoài xã Quảng Đông đã kéo đến nhà chị Thuỷ để được nhìn mặt, nghe bé Tiến nói.
(tuoi tre)
Cứu sống một cháu bé bị bệnh "độc nhất vô nhị"
Bé được nhập khoa hồi sức ngay sau sinh trong tình trạng tím tái toàn thân tại một bệnh viện trong thành phố. Ngay sau khi nhập viện, cháu được các bác sĩ phẫu thuật của bệnh viện Nhi đồng 1 cắt nối thực quản.
Thạc sĩ bác sĩ Cam Ngọc Phượng - Trưởng khoa Hồi sức Sơ sinh cho biết, đây là bệnh nhi độc nhất từ trước đến nay bị “dính” cả bệnh teo thực quản bẩm sinh, tim bẩm sinh, sinh non, suy hô hấp mà bệnh viện đã cứu sống.
Theo bác sĩ Phượng, cháu bé này bị sinh mổ do vỡ ối và giục sinh thất bại. Vì vậy, ngay sau khi sinh cháu bé, tưởng cháu không sống nổi vì bệnh quá nặng nên người nhà đã bỏ rơi tại bệnh viện do các điều dưỡng chăm sóc và không đến nhận nữa.
Rất may cháu đã được chuyển đến Nhi Đồng 1 và được cứu sống. Theo bác sĩ Phượng, sau khi sức khỏe cháu bé này ổn định, bệnh viện sẽ làm thủ tục chuyển cháu sang các trường mồ côi.
Cùng ngày, các bác sĩ Nguyễn Văn Quang, Ngô Tấn Vinh và Phan Tấn Đức trong ê kíp phẫu thuật cho bệnh nhi Đỗ Gia H. 2 tuổi ở TPHCM có khối u bướu khổng lồ trong thận cho biết, bé H đã qua cơn nguy kịch.
Trước đó, vào ngày 20/12, H. nhập viện vì người nhà phát hiện bụng to khoảng vài tháng nay. Sau nhập viện khoa Thận niệu Bệnh viện Nhi Đồng 2 các bác sĩ chẩn đoán là bướu thận nặng 1.000gram và có chồi nằm ở tĩnh mạch thận lan đến tĩnh mạch chủ bụng, nên phẫu thuật cắt bỏ.
Sau 3 giờ phẫu thuật bóc tách đầu trên và đầu dưới tĩnh mạch chủ để đề phòng chồi tĩnh mạch di chuyển gây đột tử tại bàn mổ và mở tĩnh mạch chủ lấy trọn khối chồi tĩnh mạch, ca phẫu thuật thành công bước đầu. Hiện H. được chuyển sang khoa hồi sức và đã dần ổn định sức khỏe.
Theo các bác sĩ chuyên khoa, bướu thận ở trẻ em thường gặp là dạng bướu ác, chiếm khoảng 6% các loại bướu trẻ em. Tiên lượng sống sau 5 năm khoảng 85% nếu bệnh nhân tuân thủ chế độ điều trị như hóa trị sau mổ. Bướu thận to có chồi ở tĩnh mạch chủ là một dạng bướu hiếm gặp và rất nguy hiểm khi phẫu thuật.
Tiền Phong
Nấc và cách chữa
Thanh thiệt hay còn gọi là lưỡi gà cũng co lại và che kín thanh quản và hầu làm cho không khí không đi vào khí quản được nữa, 2 dây thanh đới rung lên cho nên ta nghe thấy tiếng nấc. Thông thường, sự kích thích dây thần kinh phế vị có liên quan đến bữa cơm thịnh soạn, ăn quá nhanh hay uống ừng ực một lượng lớn nước, nhất là nước nóng nên làm căng dạ dày.
Vai trò của các yếu tố tâm lý cũng không thể coi nhẹ (tức giận, cảm động), đôi khi là những yếu tố có tính chất quyết định. Những cơn nấc có thể kéo dài nhiều phút hay nhiều giờ, tuy ít gặp.
Một số mẹo để làm cho cơn nấc chấm dứt nhưng chỉ có hiệu quả với những trường hợp nấc nhẹ:
- Nhịn thở: Hít sâu để lồng ngực phồng lên với khí hít vào, không hít bằng mũi mà bằng mồm. Làm động tác này nhiều lần. Sự tăng áp lực trong lồng ngực giúp cắt cơn nấc. Uống một hơi một cốc nước mát.
- Chỉ áp dụng các mẹo nói trên cho trẻ đã biết nghe lời và biết làm đúng cách. Nếu trẻ tỏ ra lúng túng thì người lớn cần ở bên trẻ và đánh lảng để trẻ quên cho đến khi cơn nấc qua đi.
- Khi cơn nấc đã qua, tránh uống nước nóng hay nước có ga.
- Trẻ bú mẹ bị nấc thường do nuốt quá nhanh hay nuốt cả không khí, nên tìm cho trẻ loại núm vú có thể điều chính tốc độ chảy của sữa.
- Nếu nấc kéo dài hay tái phát thì cần hỏi ý kiến thầy thuốc bởi vì có thể liên quan đến một nguyên nhân thực thể nào đó: thường gặp là thoát vị ở lỗ cơ hoành, bất thường về vận động của thực quản hay một bệnh nhiễm khuẩn, do đó phải điều trị theo nguyên nhân.
(Theo VNDOC 's blog sưu tầm)
Co giật ở trẻ em
Động kinh ở trẻ sơ sinh thường biểu hiện dưới dạng giật cơ có tính chất cục bộ, sau đó có thể lan tỏa từ một bên sang bên đối diện.
Có thể có nhiều cơn dẫn tới động kinh liên tục. Tiến triển nói chung tốt. Một vài trẻ ở khoảng 2-6 tuần tuổi có thể không còn cơn lâm sàng, nhưng điện não đồ vẫn chưa hoàn toàn ổn định.
Tuy nhiên, cũng cần cảnh giác đối với các trường hợp co giật sơ sinh kéo dài, có tính định hình (khu trú tổn thương) và toàn bộ lúc thu phát. Cần theo dõi xem có phải do sinh khó, phẫu thuật, viêm màng não, rối loạn, dị dạng mạch máu não.
Ở trẻ đang bú và trẻ nhỏ
- Co giật do sốt cao: Là những cơn co giật toàn bộ xảy ra khi bệnh nhân ở tình trạng sốt cao. Cần phân định co giật do sốt cao và động kinh. Nhiệt độ gây co giật thường là trên 39 độ C và thường gặp ở trẻ gái, nhất là trẻ gái dưới 1 tuổi. Co giật do sốt cao là điều kiện thuận lợi để phát triển thành động kinh, nhất là với những trường hợp co giật nhiều lần và kéo dài trong ngày.
- Hội chứng West: Thường gặp ở trẻ trai khoảng 7 tháng đến 1 tuổi với 3 triệu chứng: co thắt, rối loạn phát triển tâm lý vận động và có hình ảnh loạn nhịp cao điện thế ở điện não đồ. Các cơ co thắt, thể hiện ở việc đầu bệnh nhi cúi gập mạnh, hai tay có cử động vái chào. Cơn thường rất nhanh (1-15 giây), liên tiếp, có thể tới 30 cơn.
- Cơn mất trương lực - vắng ý thức: Thường gặp ở trẻ trai 5-8 tuổi và quá nửa là có liên quan tới bệnh não, còn gọi là hội chứng Lennox-Gastaut. Triệu chứng: các cơn động kinh trương lực, vắng ý thức, các nhịp sóng chậm ở điện não đồ và rối loạn tâm lý. Các cơn trương lực có thể biểu hiện ở dạng kín đáo; các động tác đảo nhãn cầu và biến đổi nhịp thở thường xảy ra lúc trẻ đang ngủ. Có thể có cứng chi, động tác tự động, giật cơ mi, cơ quanh miệng đồng thời với cơn vắng: bệnh nhi gục đầu, há miệng hoặc có khi còn chảy dãi.
Trẻ có thể chậm phát triển tâm lý vận động, rối loạn tính tình, ở trẻ lớn hơn còn có rối loạn chú ý (học kém, khó học tập, khó tiếp thu...).
Ở tuổi đi học (từ tiểu học tới năm đầu của trung học phổ thông)
- Động kinh cơn vắng: Thường xảy ra ở trước tuổi dậy thì, ở trẻ gái (70%). Cơn khởi đầu và kết thúc đột ngột, có rối loạn ý thức, cơn nhanh chừng 4-15 giây, sau đó bệnh nhi tỉnh dậy và trở lại bình thường. Biểu hiện chung của cơn vắng là mất nhận thức và mất phản ứng, đồng thời ngưng mọi hoạt động...
- Động kinh cục bộ: Động kinh cục bộ lành tính chiếm tỷ lệ 40-60% các loại động kinh ở trẻ em; thường có cơn đầu tiên vào khoảng 6-10 tuổi. Có thể có hiện tượng thiếu sót vận động sau cơn, song chỉ tồn tại trong vài phút; không có suy giảm trí tuệ.
- Động kinh toàn bộ: Là cơn động kinh điển hình với các tính chất: đột quỵ (ngay lập tức, đột ngột, không chuẩn bị...), định hình (co giật theo hình thái vận động), tái phát, rối loạn ý thức, thời gian cơn... Cần chú ý tới sang chấn khi mới sinh ra, viêm nhiễm, áp-xe não, bệnh não trẻ em.
Chẩn đoán động kinh ở trẻ em phải dựa vào việc thăm khám, kiểm chứng hoặc đánh giá cơn và đo điện não đồ. Cần phải có ý kiến đánh giá của bác sĩ chuyên khoa thần kinh - tâm thần. Tất cả các trường hợp chẩn đoán là động kinh đều phải được điều trị kịp thời...
Việc phòng bệnh động kinh ở trẻ em cần được chú ý ngay từ khi bà mẹ mang thai, thực hiện việc khám thai định kỳ và tiêm chủng cho trẻ qua các lứa tuổi.
(Theo vnexpress)
Làm gì khi trẻ bị nôn - trớ sau khi ăn ?
Khi bú quá no hoặc nuốt nhiều không khí do chỉ ngậm núm vú mà không ngậm sâu vào quầng vú của mẹ, trẻ có thể bị trớ. Khi đó, hãy kiêm trì vỗ nhẹ cho bé ợ hết không khí sau mỗi lần bú.
Trước tiên, cần phân biệt hiện tượng nôn và trớ ở trẻ. Nôn là khi nhiều sữa bị đẩy ra ngoài miệng, trong khi trớ là chỉ một lượng sữa nhỏ chảy ra mép một cách tự nhiên. Trớ sữa là một hiện tượng sinh lý bình thường ở trẻ sơ sinh. Nguyên nhân khiến sữa dễ dàng chảy ngược từ dạ dày ra thực quản và tới miệng được chia làm 3 nhóm:
- Dạ dày của bé lúc này còn nằm ngang, dung lượng nhỏ, cơ và thần kinh chưa trưởng thành.
- Cơ co thắt ở thượng vị (chỗ nối thực quản và dạ dày) chưa phát triển.
- Bú quá no.
- Nuốt nhiều không khí: do khi bú mẹ, trẻ chỉ ngậm núm vú mà không ngậm sâu vào quầng vú, hoặc khi bú bình, đầu vú không đầy sữa.
- Sau khi ăn, trẻ vô tình bị đột ngột thay đổi tư thế.
Để khắc phục hiện tượng trên, cần thực hiện một số động tác sau:
- Khi cho trẻ bú, cần để bé ngậm sâu vào quầng vú.
- Vỗ cho bé ợ hết không khí sau mỗi lần bú bằng cách bế trẻ thẳng đứng, bụng ép vào ngực mẹ, đầu kề vai mẹ. Sau đó, vỗ vào lưng trẻ cho tới nghe thấy tiếng ợ lớn. Cần kiên trì vỗ cho tới khi con ợ được một tiếng, nhiều khi phải mất tới 5-7 phút. Lúc ợ, bé có thể trớ ra một chút sữa, vì vậy đừng quên lót sẵn ở vai mình một chiếc khăn nhỏ để khỏi ướt áo.
- Giữ bé ở tư thế thẳng đứng hoặc nằm đầu cao trong khoảng 15-20 phút, tránh thay đổi tư thế đột ngột. Trên thực tế, không ít trẻ cần được bế tới 30 phút sau khi ăn để không bị nôn, trớ.
Nếu các biện pháp trên không có kết quả, cần cho bé đi khám để xác định bệnh lý trào ngược dạ dày thực quản. Trong trường hợp cần thiết, bác sĩ có thể cho bé uống thuốc để cải thiện. Ngoài ra cần theo dõi cân nặng của bé hằng tuần. Nếu bé lên cân đều thì không có gì đáng ngại. Còn nếu xuất hiện các biểu hiện bất thường như sút cân, sốt, đi ngoài phân lỏng...thì đưa trẻ đi khám ngay.
(Theo SKĐS)
Những điều cần biết về tiêm chủng cho trẻ em

I. Lịch tiêm chủng miễn phí (bắt buộc) cho mọi trẻ em :
Thuốc chủng ngừa Tuổi của bé | Bệnh lao
| Bại liệt | - Bạch hầu - Uốn ván -Ho gà | - Sởi (Ban đỏ) | Viêm gan siêu vi loại B (Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh) |
Mới sinh |
|
|
|
|
|
Tròn 1 tháng |
|
|
|
|
|
Tròn 2 tháng |
|
|
|
|
|
Tròn 3 tháng |
|
|
|
|
|
Tròn 4 tháng |
|
|
|
|
|
9 tháng |
|
|
|
|
|
18-24 tháng |
|
|
|
|
|
Ghi chú :
| Thời gian cần đưa bé đi chích |
II. Lịch tiêm chủng thu phí cho trẻ em dưới 15 tuổi tại BV Nhi đồng 1
LOẠI THUỐC NGỪA
| NGÀY TIÊM SƠ KHỞI | NGÀY TIÊM NHẮC LẠI |
TRÁI RẠ (VARILRIX) | Chỉ tiêm cho trẻ trên 12 tháng tuổi. + từ 12 tháng đến dưới 13 tuổi: Tiêm một mũi duy nhất + từ 13 tuổi trở lên: Tiêm 2 mũi cách nhau ít nhất 6 tuần lễ
| Không cần tiêm nhắc lại |
VIÊM GAN SIÊU VI B (EUVAX B) | Lịch tiêm tùy thuộc vào nguy cơ mắc bệnh: + Nguy cơ ít (*) , chích 3 mũi: - Mũi 1: bất cứ lúc nào. - Mũi 2: cách mũi đầu tiên 4 tuần lễ. - Mũi 3: cách mũi đầu tiên 6 tháng. + Nguy cơ cao (*) chích 4 mũi: - Mũi 1: bất cứ lúc nào. - Mũi 2: cách mũi đầu tiên 4 tuần lễ. - Mũi 3: cách mũi đầu tiên 2 tháng. - Mũi 4: cách mũi đầu tiên 12 tháng. | Tiêm nhắc lại một mũi duy nhất. + Nguy cơ ít 5 năm sau mũi đầu tiên
+ Nguy cơ cao 8 năm sau mũi đầu tiên.
|
THƯƠNG HÀN (TYPHYM VI)
|
Tiêm một mũi duy nhất cho trẻ trên 5 tuổi.
| - Mỗi 3 năm tiêm nhắc 1 lần. |
VIÊM MÀNG NÃO MŨ (HIBERIX)
| Trẻ từ 2 tháng tuổi đến dưới 6 tháng tuổi, chích 3 mũi: - Mũi 1: trong lứa tuổi trên. - Mũi 2: cách mũi 1 ít nhất 4 tuần. - Mũi 3: cách mũi 2 ít nhất 4 tuần
| Chích nhắc lại một mũi, cách mũi 3: 12 tháng. |
Trẻ từ 6 tháng tuổi đến dưới 12 tháng tuổi, chích 2 mũi: - Mũi 1: trong lứa tuổi trên. - Mũi 2: cách mũi 1 ít nhất 4 tuần
| Chích nhắc lại một mũi cách mũi 2 : 12 tháng. | |
Từ 1 đến dưới 5 tuổi, chích 1 mũi duy nhất | Không cần tiêm nhắc | |
QUAI BỊ – SỞI - BAN HỒNG HAY RUBELLA (MMR)
| Trẻ từ 12 tháng tuổi đến dưới 6 tuổi, chích một mũi duy nhất | Chích nhắc lại một mũi khi trẻ trong độ tuổi từ 6 đến 12 tuổi. |
VIÊM NÃO NHẬT BẢN B | Chỉ tiêm cho trẻ trên 1 tuổi, tiêm 3 mũi: - Mũi 1: trong lứa tuổi trên. - Mũi 2: cách mũi đầu tiên 1 tuần. - Mũi 3: cách mũi đầu tiên 1 năm. | - Mỗi 3 năm tiêm nhắc 1 lần. |
VIÊM MÀNG NÃO DO NÃO MÔ CẦU LOẠI A VÀ C (MENINGO A + C) | Trẻ trên 18 tháng tuổi: tiêm 1 mũi | - Mỗi 3 năm tiêm nhắc 1 lần. |
CÚM (VAXIGRIP)
| Từ 6 tháng đến 8 tuổi: 1 mũi.
Từ 9 tuổi trở lên: - Mũi 1: trong lứa tuổi trên. - Mũi 2: cách mũi 1 ít nhất 4 tuần | Tiêm lại mỗi năm. |
BẠCH HẦU – HO GÀ – UỐN VÁN – BẠI LIỆT (TETRACOQUE)
| Mũi 1: khi trẻ tròn 2 tháng Mũi 2: khi trẻ tròn 3 tháng Mũi 3: khi trẻ tròn 4 tháng | Mũi 4: sau mũi 3 ít nhất 12 tháng. Không sử dụng cho trẻ từ 7 tuổi trở lên. |
BẠCH HẦU – UỐN VÁN (DTVAX)
| Được dùng để tiêm thay thế cho thuốc kết hợp Bạch hầu- Ho gà – Uốn ván cho những trẻ nghi ngờ bị dị ứng với Ho gà. Lịch tiêm giống như Bạch hầu- Ho gà – Uốn ván – Bại liệt
| |
| (Theo Bệnh viện Nhi Đồng) |
Nuôi con bằng sữa mẹ là an toàn và kinh tế nhất

UNICEF ước tính có 1,3 triệu trẻ chết hằng năm bởi không được nuôi bằng sữa mẹ hoàn hoàn trong vòng 6 tháng đầu, mà bị nuôi bằng các thức ăn đồ uống khác.
Nuôi con bằng sữa mẹ rất kinh tế vì có thể tiết kiệm được hàng triệu đô la đổ vào việc sản xuất, vận chuyển phân phối các sản phẩm thực phẩm đắt đỏ dùng để chữa trị hay phục hồi cho các trẻ em đang bị suy dinh dưỡng.
Sữa mẹ chứa hàng trăm thành phần dinh dưỡng và các yếu tố bảo vệ giúp tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể. Nguồn sữa mẹ có tính bền vững cao vì do cơ thể người mẹ tự sản xuất và luôn tươi mới. Sữa mẹ được tiết ra với lượng đáp ứng đủ sức bú và nhu cầu của từng trẻ. Sữa mẹ là độc nhất vô nhị đáp ứng nhu cầu về chất (để trẻ không đói) và nhu cầu về thành phần nước (để trẻ không khát) trong mỗi ngày, và thậm chí trong mỗi bữa bú.
Bú mẹ hoàn toàn là tiêu chuẩn cao nhất về nuôi trẻ. Tổ chức Y tế Thế giới đã khuyến cáo tất cả trẻ nhỏ cần được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và tiếp tục nuôi bằng sữa mẹ đến 2 năm hoặc lâu hơn kết hợp với cho trẻ ăn thêm các bữa ăn bổ sung chế biến từ các thực phẩm giàu dinh dưỡng. Sữa mẹ cung cấp 100% nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ trong giai đoạn 6 tháng đầu; rồi 50% nhu cầu ấy cho giai đoạn từ 6 đến 12 tháng tuổi. Trong năm thứ hai, sữa mẹ vẫn còn có thể cung cấp 33% nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ và khả năng cung cấp này còn khoảng 10% vào năm thứ ba.
Các trường hợp mẹ mất sữa vô cớ là vô cùng hiếm. Nếu được thông tin đầy đủ và sự hỗ trợ thì hầu như tất cả các bà mẹ đều có khả năng có đủ sữa nuôi con. Vậy mà 1,3 triệu trẻ chết mỗi năm bởi chúng không được nuôi bằng bú mẹ hoàn toàn lại đang là một thực tế bởi trong vòng 6 tháng đầu, thay vì bú sữa mẹ những trẻ này đã bị nuôi bằng các thức ăn đồ uống khác. Những trẻ này có nguy cơ bị bệnh tật và suy dinh dưỡng. Sữa hộp cho trẻ nhỏ được sản xuất từ sữa bò. Mọi loại sữa này tuy có đủ các chất dinh dưỡng để nuôi sống trẻ, nhưng trong thành phần lại không có các yếu tố miễn dịch như trong sữa mẹ. Hơn nữa dùng các loại sữa thay thế này nếu không vệ sinh cao thì mối hiểm nguy về ô nhiễm luôn rình rập đe dọa.
(Theo VNExpress)
Văcxin '5 trong 1' an toàn cho trẻ

Việc tiêm phòng cho trẻ nhỏ kháng lại 5 bệnh chỉ với 1 mũi tiêm cũng hiệu quả như từng mũi riêng biệt và tỷ lệ phản ứng phụ không cao.
"Việc kết hợp các loại văcxin không ảnh hưởng tới sức phòng bệnh mà từng loại văcxin mang lại", tiến sĩ S.Gabutti, Đại học Ferrara (Italy) cho biết.
Văcxin "5 trong 1" trong nghiên cứu của Gabutti là loại kết hợp giữa văcxin "4 trong 1" phòng các bệnh bạch hầu, uốn ván, ho gà và viêm gan B (gọi tắt là DTaP-HBV) với văcxin phòng Haemophilus influenzae type b (Hib). Việc hợp nhất này sẽ đơn giản hóa lịch tiêm phòng và khuyến khích việc chủng ngừa Hib - loại văcxin mà rất ít trẻ được nhận đủ 3 liều.
Để đảm bảo phương pháp kết hợp cho ra phản ứng miễn dịch hiệu quả và không gây phản ứng thái quá, nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm trên 360 trẻ sơ sinh từ 12 đến 16 tuần khỏe mạnh. Số trẻ này ngẫu nhiên được tiêm mũi kết hợp hay tách biệt, hoặc là văcxin DTaP-HBV hoặc Hib. Lịch tiêm chủng quy định vào tháng thứ 3, 5 và 11.
Sau khi hoàn thành liệu trình chủng ngừa, hơn 97% số trẻ ở cả hai nhóm có lượng kháng thể bảo vệ chống lại các bệnh bạch hầu, uốn ván, ho gà, Hib và viêm gan B. Các phản ứng phụ ở cả hai nhóm rất nhẹ và chỉ thoáng qua, không để lại biến chứng lâu dài.
(Theo Vnexpress)
Em bé không bao giờ được ôm ấp

Cơ thể bé Sarah Morrison ở Ireland mềm đến mức bé có thể gãy xương nếu hắt hơi hay khi được cha mẹ ôm ấp vào lòng.
Trước khi Sarah ra đời, bác sĩ cho biết, bé có 30 xương sườn và chỉ sống được khoảng 2 ngày. Nhưng sinh linh bé nhỏ này đang chờ đợi sinh nhật đầu tiên của mình vào tháng tới.
Mẹ bé Sarah - chị McCrossan, 34 tuổi - cho biết từ khi còn trong bụng mẹ, bé đã mắc căn bệnh rối loạn quá trình hoàn chỉnh xương. Trên thế giới, tỷ lệ mắc bệnh này là 1 phần triệu. Đứa con đầu lòng của chị tên là Leah cũng mắc căn bệnh này và qua đời khi mới 2 tuần tuổi.
McCrossan đã được khuyên phá thai khi mang bầu lần thứ hai. Song vợ chồng chị quyết cứu cháu bằng cách đưa đến một chuyên gia ở Shellfied, Anh.
Chị McCrossan cho biết Sarah đã bị gãy 2 xương trên đường từ bệnh viện về nhà: "Cháu đã trải qua không ít khó khăn trong cuộc đời. Song khi cháu nhìn chúng tôi cười, cháu mới đáng yêu làm sao".
(Theo VNExpress)
Chăm sóc bà mẹ mang thai và trẻ sơ sinh

CHĂM SÓC TRẺ SƠ SINH
1. Cuống rốn
Muốn cho cuống rốn khỏi bị nhiễm trùng sau khi cắt, cần giữ sạch và khô. Cuống rốn càng khô càng mau rụng. Vì lẽ đó, không nên băng quanh bụng trẻ lại và nếu muốn băng, thì nên băng lỏng thôi.
2. Mắt
Đề phòng trẻ mới đẻ bị đau mắt nguy hiểm, nhỏ 1 giọt nitrat 1% hoặc tra ít thuốc mỡ tetracyclin vào mỗi mắt ngay sau khi đẻ. Điều này quan trọng nếu bố hoặc mẹ có dấu hiệu của bệnh lậu.
3. Giữ trẻ ấm, nhưng đừng nóng quá
Bảo vệ cho trẻ khỏi bị lạnh, nhưng cũng đừng để nóng quá. Cho trẻ mặc ấm vừa đủ như ta mặc cho ta.
Muốn cho trẻ mới đẻ đủ ấm, nên để mẹ ãm con vào lòng.
4. Vệ sinh
Điều quan trọng là phải làm đúng những lời chỉ dẫn về vệ sinh. Cần chú ý đặc biệt những điểm sau:
- Mỗi khi tã lót hay chăn chiếu của trẻ bị ướt hay bẩn, phải thay ngay. Nếu da trẻ bị đỏ, phải thay tã lót luôn hoặc tốt hơn cứ nên để truồng.
- Sau khi rụng rỗn, tắm cho trẻ hàng ngày bằng nước ấm và xà phòng thơm.
- Nếu nhà có muỗi hay ruồi, buông màn cho trẻ nằm, có thể che bằng vải mỏng.
- Người bị lở loét, cảm cúm, viêm họng, lao hay bị bệnh nhiễm trùng khác không được bế hay đến gần trẻ.
- Đừng để trẻ ở nơi có khói và bụi.
5. Cho bú
Sữa mẹ chứa đủ chất cần thiết của trẻ hơn bất kỳ thứ sữa nào khác, dù là sữa tươi, sữa bột hay sữa hộp.
- Sữa mẹ sạch. Khi cho trẻ ăn các thức ăn khác là khi đổ vào bình thì khó mà giữ bình được sạch, nên dễ sinh ỉa chảy và các bệnh khác
- Nhiệt độ của sữa mẹ bao giờ cũng vứa phải.
- Sữa mẹ có sẵn kháng thể giúp trẻ chống lại một số bệnh như sởi, bại liệt...
Sau khi đẻ, người mẹ nên cho bú ngay. Những ngày đầu, sữa mẹ thường rất ít. Đó là bình thường, không nên thấy thế mà cho trẻ uống sữa bằng bình mà phải cho trẻ bú mẹ nhiều lần. Trẻ bú nhiều lần, sữa sẽ ra nhiều hơn.
Người mẹ nên cho con bú hoàn toàn sữa mẹ từ 4-6 tháng đầu, sau đó vẫn cho bú nhưng cũng phải cho ăn thêm các thức ăn bổ sung khác.
Muốn cho mẹ có nhiều sữa
Người mẹ phải...
- Uống nhiều chất lỏng.
- Ăn đầy đủ, nhất là sữa, thức ăn có sữa và thức ăn bổ khác nếu có thể được.
- Ngủ nhiều, tránh làm việc mệt nhọc hay lo lắng.
- Cho trẻ bú luôn.
Cẩn thận khi dùng thuốc cho trẻ sơ sinh
Đối với trẻ mới sinh, nhiều thuốc rất nguy hiểm. Chỉ dùng các loại thuốc mà ta đã biết chắc chắn chỉ dùng cho trẻ sơ sinh và cũng chỉ dùng trong trường hợp hết sức cần thiết. Phải đảm bảo dùng đúng liều lượng và không dùng quá nhiều. Đối với trẻ sơ sinh, cloramphenicol đặc biệt nguy hiểm và lại càng nguy hiểm đối với trẻ thiếu tháng hay quá nhẹ cân (dưới 2 kg).
BỆNH TẬT Ở TRẺ SƠ SINH
Điều quan trọng là phải chú ý đến mọi vấn đề hay bệnh tật ở trẻ sơ sinh - và đối phó khẩn trương.
1. Những vấn đề ở trẻ mới lọt lòng
Những vấn đề này có thể do điều bất thường trong quá trình phát triển của thai trong tử cung hoặc thai bị tổn thương trong khi đẻ. Vì vậy, ngay sau khi đẻ, phải quan sát trẻ cẩn thận. Nếu trẻ có những dấu hiệu sau đây, có thể có vấn đề nghiêm trọng:
- Nếu sau khi đẻ, không thở ngay.
- Nếu không thấy mạch đập, hoặc mạch dưới 100 lần/1 phút.
- Nếu mặt và người trắng, xanh hay vàng sau khi trẻ bắt đầu thở.
- Nếu tay, chân mềm thõng, không vận động tự chủ hay không vận động khi cấu véo.
- Nếu sau 15 phút đầu, trẻ rên hoặc khó thở.
Một số vấn đề này có thể do tổn thương não khi đẻ gây nên. Hầu như không bao giờ do nhiễm trùng (trừ trường hợp vỡ ối trước khi đẻ quá 14 giờ). Những thuốc thông thường không ích gì. Phải đưa đi cấp cứu.
Sau 2 ngày đầu, trẻ không đi tiểu hoặc không đi ngoài được cũng phải mời thầy thuốc thăm khám.
2. Những vấn đề ở trẻ sau khi đẻ (Những ngày đầu hoặc những tuần đầu):
2.1. Rốn có mủ hoặc có mùi hôi là dấu hiệu nguy hiểm. Chú ý dấu hiệu đầu tiên của uốn ván rốn, hoặc nhiễm trùng máu. Cần nhỏ nước oxy già vào cuống rốn hay bôi thuốc tím gentian và để rốn hở, tiếp xúc với không khí. Nếu da quanh rốn đỏ và nóng, cho trẻ uống kháng sinh.
2.2. Nhiệt độ quá thấp (dưới 350 ) hoặc sốt cao, cũng đều là dấu hiệu nhiễm trùng. Sốt cao (trên 390) nguy hiểm đối với trẻ mới đẻ. Cởi hết tã lót, chườm nước ấm vào 2 hố nách, bẹn cho trẻ. Chú ý dấu hiệu kiệt nước. Nếu thấy có dấu hiệu kiệt nước, phải cho trẻ bú sữa mẹ và uống “Nước uống để hồi phục lượng nước.”
2.3. Co giật: Nếu trẻ mới đẻ có sốt, chữa như đã nói trên. Phải hết sức chú ý xem có kiệt nước không. Trẻ bị co giật ngay sau khi đẻ, chắc là có tổn thương ở não khi đẻ. Nếu co giật xảy ra ngay sau ít ngày, theo dõi cẩn thận những dấu hiệu của uốn ván hoặc viêm màng não.
2.4. Trẻ không lên cân: Những ngày đầu, nhiều trẻ thường sụt cân đôi chút. Đó là chuyện bình thường. Sau tuần đầu, nếu là trẻ khỏe mạnh thì mỗi tuần tăng được 200g. Sau 2 tuần, trẻ khỏe mạnh phải cân nặng bằng lúc mới đẻ. Nếu không lên cân hoặc sút cân, có thể là có vấn đề xấu. Phải xem lúc trẻ đẻ có khỏe không? Có bú nhiều không? Khám kỹ xem có những dấu hiệu nhiễm trùng hoặc những vấn đề khác không. Nếu không tìm thấy nguyên nhân phải đi khám thầy thuốc.
2.5. Trớ: Khi trẻ khỏe mạnh ợ (hoặc ợ hơi mà trẻ nuốt phải trong khi bú), đôi khi cũng ợ ra một ít sữa. Đó là điều bình thường. Để giúp trẻ ợ hơi ra sau khi bú, người mẹ phải ãm trẻ lên vai, vỗ nhẹ vào lưng trẻ. Nếu sau khi cho bú, đặt trẻ nằm, trẻ bị trớ, thì sau khi cho bú giữ cho trẻ ngồi thẳng một lúc.
Nếu trẻ bị trớ nhiều quá, hoặc trớ luôn làm cho trẻ bị sụt cân hay kiệt nước, tức là trẻ đã bị ốm. Nếu kèm theo bị ỉa chảy, có thể là trẻ bị viêm đường ruột, nhiễm trùng máu, viêm màng não và nhiều bệnh viêm nhiễm khác cũng có thể gây trớ.
Nếu các chất trớ ra màu xanh, hay vàng có thể là trẻ bị tắc ruột, đặc biệt nếu bụng trẻ chướng căng, hoặc không đi ngoài được, cần cho trẻ đi bệnh viện cấp cứu ngay lập tức.
2.6. Trẻ không chịu bú: Nếu quá 4 giờ trẻ không chịu bú là dấu hiệu nguy hiểm, nhất là nếu thấy trẻ có vẻ buồn ngủ hoặc mệt hoặc quấy khóc hoặc có cử động bất thường. Nhiều bệnh có thể có những dấu hiệu này, nhưng thường trong 2 tuần đầu nguyên nhân thông thường nhất là nhiễm trùng máu và uốn ván.
3. Nếu trẻ mới đẻ bỏ bú hay xem ra có vẻ ốm: Thăm khám kỹ toàn diện. Cần kiểm tra như sau:
3.1. Xem trẻ có khó thở không? Nếu mũi bị ngạt, thì hút mũi cho trẻ. Thở nhanh (50 lần/phút hoặc hơn), da xanh, thở khò khè, và co rút hõm ức và các cơ xương sườn, là dấu hiệu của viêm phổi. Trẻ mới đẻ bị viêm phổi không ho, đôi khi không thấy một dấu hiệu phổ biến nào của bệnh này. Nếu nghĩ trẻ bị viêm phổi, điều trị như nhiễm trùng máu.
3.2. Xem màu da: Nếu môi và mặt màu xanh tím, phải nghĩ đến viêm phổi (hoặc có bệnh tim bẩm sinh hoăc vấn đề gì bẩm sinh khác).
Nếu mặt và củng mạc mắt vàng vào những ngày đầu hoặc ngày thứ 5 là rất trầm trọng. Cần cho đi khám. Vào giữa ngày thứ 2 đến ngày thứ 5, trẻ có thể có vàng da nhẹ. Thường là không nghiêm trọng. Cho trẻ uống nhiều chất lỏng “nước uống để hồi phục lượng nước” rất tốt, phối hợp với bú sữa mẹ. Cởi hết tã lót cho trẻ, để gần cửa sổ cho ánh sáng chiếu vào (nhưng không được để ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp vào da trẻ).
3.3. Sờ thóp (Chỗ mềm ở đỉnh đầu):
- Nếu thóp lõm, trẻ có thể bị kiệt nước.
- Nếu thóp phồng, trẻ có thể bị viêm màng não.
ĐIỀU QUAN TRỌNG: Nếu trẻ mới đẻ bị viêm nàng não, đồng thời lại bị ỉa chảy, thóp có thể bình thường. Vì vậy, muốn chắc chắn phải tìm những dấu hiệu khác của kiệt nước và viêm màng não.
3.4. Chú ý những cử động và vẻ mặt của trẻ
- Người cứng và có hoặc không có những cử động bất thường là dấu hiệu của uốn ván, viêm màng não, tổn thương não khi đẻ hoặc sốt. Nếu khi sờ vào hoặc di chuyển trẻ, các cơ ở mặt hoặc ở thân đột nhiên co giật, có thể là trẻ bị uốn ván. Kiểm tra xem trẻ có há mồm được không và tìm phản xạ đầu gối.
- Nếu khi trẻ có một cử động đột ngột hay mạnh mà mắt trợn ngược hoặc đưa đi đưa lại, thì chắc không phải là uốn ván. Những cơn có giật này có thể là do viêm màng não. Kiệt nước và sốt cao cũng có thể là nguyên nhân gây co giật.
3.5. Cần tìm những dấu hiệu của nhiễm trùng máu: Trẻ mới đẻ rất dễ bị nhiễm trùng. Vi trùng qua da, dây rốn trong khi đẻ vào máu và lan tràn đi khắp cơ thể, thời gian này là 1 hoặc 2 ngày. Nhiễm trùng máu thường xảy ra nhất sau khi đẻ 2 ngày.
Dấu hiệu:
Dấu hiệu nhiễm trùng ở trẻ mới đẻ khác với dấu hiệu nhiễm trùng ở các trẻ lớn hơn. Ở trẻ mới đẻ hầu hết bẩt kỳ dấu hiệu nào sau đây cũng có thể do nhiễm trùng máu. Những dấu hiệu đó có thể là:
- Không chịu bú
- Có vẻ buồn ngủ
- Da xanh (thiếu máu)
- Trớ hoặc ỉa chảy
- Sốt hoặc nhiệt độ hạ (dưới 35o)
- Bụng chướng căng
- Vàng da
- Co giật
- Nhiều lúc da tím tái.
Nếu chỉ có một trong các dấu hiệu trên, thì có thể do một nguyên nhân khác không phải là nhiễm trùng máu, nhưng nếu trẻ mới đẻ có nhiều dấu hiệu trên cùng một lúc, thì thường là bị nhiễm trùng máu.
Trẻ mới đẻ bị nhiễm trùng nặng không phải lúc nào cũng sốt. Nhiệt độ có thể cao, thấp hoặc bình thường.
Khi thấy trẻ có một trong các dấu hiệu trên, nên đưa trẻ đến cơ sở khám chữa bệnh để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.
CHĂM SÓC VÀ CHẾ ĐỘ ĂN CHO NGƯỜI MẸ TRONG THỜI KỲ CÓ THAI VÀ CHO CON BÚ
Nuôi con khoẻ mạnh, thông minh là niềm vui, hạnh phúc, là mong muốn của mỗi người mẹ, mỗi gia đình và là trách nhiệm thiêng liêng đối với giống nòi, đất nước.
Muốn con khoẻ mạnh, mỗi người mẹ cần phải biết chăm sóc sức khoẻ của mình, đặc biệt trong thời kỳ có thai, cho con bú, vì sức khoẻ, bệnh tật của người mẹ trong thời kỳ này đều có ảnh hưởng sâu sắc đế sự phát triển và sức khoẻ của đứa con trong bụng hay đang được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ.
Trước hết, để có một gia đình hạnh phúc, cần thực hiện sinh đẻ có kế hoạch. Nuôi được một đứa con nên người rất công phu, tốn kém, cho nên phải tính toán cân nhắc kỹ trước khi định có con. Trong tình hình kinh tế chung hiện nay, mỗi cặp vợ chồng chỉ nên có từ một đến hai con. Không nên có con quá sớm, trước 22 tuổi, vì đẻ sớm quá cơ thể người mẹ chưa phát triển đầy đủ và hoàn thiện cơ quan sinh dục và các tuyến nội tiết. Không nên sinh quá muộn sau 35 tuổi, vì đẻ muộn, khung xương chậu, các dây chằng cứng khó dãn nở, dẫn đến nguy cơ đẻ khó. Tốt nhất nên đẻ ở lứa tuổi 25 đến 30 tuổi và khoảng cách mỗi lẫn sinh tối thiểu là 3 năm.
I. Chăm sóc người mẹ
Chăm sóc người phụ nữ khi có thai nghén nhằm đảm bảo một cuộc thai nghén bình thường và sinh đẻ an toàn cho cả mẹ lẫn con. Vì thế, khi có thai người mẹ cần đến trạm y tế hoặc nhà hộ sinh đăng ký quản lý thai, để được nhân viên y tế khám và theo dõi. Mỗi người mẹ đều có phiếu khám thai hoặc phiếu theo dõi sức khoẻ tại nhà.
Bắt đầu có thai, một số người mẹ thường cảm thấy mệt mỏi, chán ăn, hay có cảm giác buồn nôn hoặc thèm ăn những thức ăn theo sở thích riêng của từng người. Các hiện tượng đó chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, sau đó người mẹ cần chăm lo ăn uống hợp lý và giữ gìn sức khoẻ để thai phát triển bình thường.
Để theo dõi sự phát triển của thai, người mẹ nên thực hiện việc khám thai định kỳ ít nhất 3 lần trong suốt thời kỳ thai nghén. Lần thứ nhất vào ba tháng đầu để xác định chắc chắn có thai hay không, lần thứ hai vào ba tháng giữa để xem thai khoẻ hay yếu để có kế hoạch bồi dưỡng cho người mẹ kịp thời, lần thứ ba vào ba tháng cuối để xem thai có phát triển bình thường không, thuận hay ngược, tiên lượng cuộc đẻ và dự kiến ngày sinh.
Nếu khám được nhiều lần hơn càng tốt, nhất là ba tháng cuối, mỗi tháng nên khám một lần. Khi khám thai, người mẹ cần được khám toàn thân: đo chiều cao, cân nặng, đếm mạch, nghe tim phổi, đo huyết áp, thử nước tiểu, phát hiện các yếu tố bất thường như cao huyết áp, protein niệu, da xanh xao thiếu máu (nhìn niêm mạc môi, mắt), phù nề (ấn vào mắt cá chân) và các bệnh mãn tính tim, gan, thận... Khám sản khoa: đo chiều cao tử cung, vòng bụng, nghe tim thai. Đề phòng bệnh uốn ván cho con, người mẹ khi có thai cần được tiêm phòng uốn ván, tiêm hai lần: mũi thứ nhất vào tháng thứ tư hoặc thứ sáu, mũi thứ hai cách mũi thứ nhất một tháng và trước khi đẻ ít nhất nửa tháng.
Trong thời kỳ có thai, nhất là ở các tháng cuối, do thai chèn ép vào các mạch máu lớn của ổ bụng, có thể có hiện tượng "xuống máu chân", phù nhẹ ở chân. Nếu thấy phù toàn thân kèm nhức đầu, mờ mắt thì có thể do nhiễm độc thai nghén, phải đi khám, thử nước tiểu, đo huyết áp, hạn chế ăn muối. Thường xuyên đi khám để tránh tai biến khi đẻ.
Khi có thai, cần hết sức thận trọng khi dùng thuốc, tiêm chủng, chiếu chụp điện vì rất dễ gây rối loạn phát triển thai. Thí dụ, khi mới có thai, dùng vitamin A liều cao có thể làm thai phát triển không bình thường; dùng kháng sinh streptomycin có thể làm trẻ bị điếc ngay từ khi đẻ. Một số thuốc nội tiết, an thần có thể gây sảy thai, thai chết, rối loạn phát triển của thai hoặc bị bệnh sau khi đẻ. Do đó khi cần dùng thuốc, phải hỏi ý kiến thầy thuốc.
Chế độ lao động, nghỉ ngơi hợp lý, tinh thần thoải mái của người mẹ ảnh hưởng trực tiếp đến thai nhi. Nên lao động chân tay và trí óc một cách điều độ, tránh lao động mệt nhọc quá sức. Quan niệm "Chửa con so, làm cho láng giềng" để thai không quá to, dễ đẻ là không đúng. Vào tháng cuối, người mẹ cần được nghỉ ngơi để có thời gian chuẩn bị cho con, cho mẹ, có sức khoẻ tốt, tránh được tai biến khi đẻ.
II. Chế độ ăn uống của người mẹ
Chế độ ăn uống của người mẹ có vai trò quan trọng quyết định đối với sự phát triển của thai nhi. Người mẹ cần nhớ rằng phải ăn uống cho mình và cho cả con trong bụng. Nếu người mẹ được ăn uống tốt, đầy đủ các chất dinh dưỡng thì người mẹ sẽ lên cân tốt. Trong suốt thời kỳ có thai, người mẹ cần tăng được từ 10kg đến 12 kg (trong đó, 3 tháng đầu tăng 1kg, 3 tháng giữa tăng 4-5kg, 3 tháng cuối tăng 5-6 kg). Tăng cân tốt, người mẹ sẽ tích luỹ mỡ là nguồn dự trữ để tạo sữa sau khi sinh. Những trường hợp người mẹ bị thiếu ăn hoặc ăn uống kiêng khem không hợp lý chính là nguyên nhân của suy dinh dưỡng trong bào thai,trẻ đẻ ra có cân nặng thấp dưới 2500g.
1. Nhu cầu dinh dưỡng.
Khi có thai, nuôi con bú, nhu cầu về năng lượng và các chất dinh dưỡng đòi hỏi cao hơn ở mức bình thường vì nhu cầu ngoài đảm bảo cung cấp cho các hoạt động của cơ thể, sự thay đổi về sinh lý của người mẹ như biến đổi về chuyển hoá, tích luỹ mỡ, tăng cân, sự tăng về khối lượng của tử cung, vú, còn cần thiết cho sự phát triển của thai nhi và tạo sữa cho con bú.
* Tăng thêm năng lượng: Nhu cầu năng lượng của bà mẹ có thai 6 tháng cuối là 2550 Kcal/ngày, như vậy, năng lượng tăng thêm hơn người bình thường mỗi ngày là 350 Kcal. Để đạt được mức tăng này,người mẹ cần ăn thêm 1 đến 2 bát cơm. Đối với bà mẹ nuôi con bú, năng lượng cung cấp tỷ lệ với lượng sữa sản xuất, nhưng nói chung, ở bà mẹ nuôi con 6 tháng đầu, năng lượng cần đạt được 2750 Kcal/ngày, như vậy, năng lượng tăng thêm mỗi ngày là 550 Kcal (tương đương với 3 bát cơm mỗi ngày).
* Bổ sung chất đạm và chất béo giúp việc xây dựng và phát triển cơ thể cho trẻ:
Khi mang thai nhu cầu chất đạm ở người mẹ tăng lên giúp việc xây dựng và phát triển cơ thể của trẻ. Ngoài cơm (và lương thực khác) ăn đủ no, bữa ăn cho bà mẹ có thai cần có thức ăn để bổ sung chất đạm và chất béo. Trước hết cần chú ý đến nguồn chất đạm từ các thức ăn thực vật như đậu tương, đậu xanh, các loại đậu khác và vừng lạc. Đây là những thức ăn giá rẻ hơn thịt, nhưng có lượng đạm cao, lại có chất béo giúp tăng năng lượng bữa ăn và giúp hấp thu tốt các vitamin tan trong dầu (vitamin A,D,E). Chất đạm động vật đáng chú ý là các loại thủy sản như tôm, cua, cá, ốc... có điều nên cố gắng có thêm thịt, trứng, sữa. Nhu cầu chất đạm cho phụ nữ trong thời kỳ mang thai 3 tháng cuối: 70g/ngày, còn đối với bà mẹ cho con bú cần cao hơn 83g/ngày.
* Bổ sung vitamin, chất khoáng và các yếu tố vi lượng:
Trong khi có thai cũng như nuôi con bú, với khẩu phần ăn cân đối sẽ đảm bảo cung cấp vitamin, các chất khoáng và các yếu tố vi lượng. Trong thời kỳ có thai, cần khuyên người mẹ nên ăn các loại thức ăn, thực phẩm có nhiều vitamin C như rau, quả, các loại thức ăn có nhiều canxi, photpho (cá, cua, tôm, sữa... ) để giúp cho sự tạo xương của thai nhi. Các thức ăn có nhiều sắt như thịt, trứng, các loại đậu đỗ.. để đề phòng thiếu máu.
Khi cho con bú, đề phòng bệnh khô mắt do thiếu vitamin A, người ta khuyên người mẹ nên ăn các thức ăn có nhiều protein và vitamin như trứng, sữa, cá, thịt, đậu đỗ và các loại rau, quả có nhiều caroten (tiền vitamin A) như rau muống, rau ngót, rau dền, đu đủ, gấc, xoài...
Ngoài ra, nên cho người mẹ trong vòng một tháng đầu sau khi sinh uống một liều vitamin A 200.000 đơn vị để đủ vitamin A trong sữa cho con bú 6 tháng đầu.
2. Chế độ ăn.
Trong thời kỳ có thai, nuôi con bú, chế độ ăn uống rất quan trọng vì có ảnh hưởng tới sức khoẻ của cả mẹ lẫn con. Trong chế độ ăn, người mẹ không nên kiêng khem, nhưng cũng cần chú ý một số vấn đề nên hạn chế trong ăn uống như:
- Không nên dùng các loại kích thích như rượu, cà phê, thuốc lá, nước chè đặc...
- Giảm ăn các loại gia vị như ớt, hạt tiêu, tỏi, dấm.
Trong khi có thai và cho con bú, người mẹ phải ăn nhiều hơn bình thường.
Trước hết, bữa ăn cần cung cấp đủ năng lượng, nguồn năng lượng trong bữa ăn ở nước ta chủ yếu dựa vào lương thực như gạo, ngô, mỳ... Các loại khoai củ cũng là nguồn năng lượng, nhưng ít chất đạm (protein), do đó chỉ nên ăn trộn, không ăn trừ bữa. Gạo nên chọn loại gạo tốt, không xay xát quá trắng vì sẽ mất nhiều chất dinh dưỡng, đặc biệt là vitamin B1 chống bệnh tê phù.Trong bữa ăn cần cung cấp đủ chất đạm (protein), vì chất đạm cần cho thai lớn, mẹ đủ sữa.
(BSSP)
Xử lý khi trẻ bị tiêu chảy
Một vài vấn đề dưới đây bạn cần nắm rõ để có thể xứ lý tốt trong trường hợp bé bị tiêu chảy...
Tiêu chảy đơn giản là tiêu phân lỏng?
- SAI. Gọi là tiêu chảy cấp khi trẻ đi phân lỏng trên 3 lần/ngày, nhưng kéo dài không quá 14 ngày.
Tiêu chảy là do bị ngộ độc thực phẩm?
- SAI. Tiêu chảy có thể do nhiều nguyên nhân, trong đó có thể do ngộ độc thực phẩm.
Tiêu chảy có ói mửa là dịch tả?
- SAI. Tiêu chảy có ói mửa thường là do ngộ độc thực phẩm. Dịch tả là đi tiêu phân lỏng ồ ạt, nhiều lần trong ngày, đục như nước vo gạo và mùi rất tanh, tử vong nhanh.
Mọc răng làm cho trẻ tiêu chảy cấp?
- SAI. Mọc răng đôi khi khiến trẻ bị rối loạn tiêu hóa nhẹ (đi tước), có thể do sự tăng tiết quá mức của các tuyến nước bọt, nhưng đa phần trẻ bị tiêu chảy cấp khi mọc răng là do nhiễm vi khuẩn hay virus. Thời kỳ mọc răng cũng là thời điểm kháng thể của mẹ truyền sang đã không còn và đó cũng chính là thời điểm trẻ bắt đầu vơ lấy bất cứ thứ gì trong tầm tay để cho vào miệng, làm gia tăng khả năng tiếp xúc với vi trùng…
Nên cho trẻ đi khám ngay khi trẻ bị tiêu chảy?
- SAI. Chỉ nên cho trẻ đi khám khi cơ thể có dấu hiệu mất nước.
Khát chính là dấu hiệu mất nước?
- SAI. Khát chỉ là một trong những dấu hiệu mất nước, đôi khi không chính xác do trẻ không đòi, không thích uống hoặc muộn khiến mất nước nặng, trẻ không uống được. Cần xem xét tổng thể từ dấu hiệu toàn thân (quấy khóc hay lừ đừ…) cho đến mắt trũng, lưỡi miệng khô, không có nước mắt khi khóc và dấu véo da chậm trở về bình thường. Khi ấy mới biết cơ thể có mất nước hay không và mất nước nhẹ hay nặng.
Cho trẻ uống dung dịch ORS khi bị tiêu chảy để bù lại lượng nước và muối khoáng mất đi qua phân?
- ĐÚNG. Nhưng nếu không có ORS, vẫn có thể cho bé uống nước cháo muối, nước gạo rang, nước cà rốt muối hoặc ngay cả nước đun sôi để nguội còn tốt hơn là không cho bé uống gì. Có thể tự pha bằng 1 lít nước chín + 3g muối + 18g đường hoặc 1 lít nước chín + 3g muối + 80g bột.
Trẻ bị tiêu chảy bằng mọi giá phải làm cho ngưng tiêu chảy?
- SAI. Làm ngưng tiêu chảy lúc này sẽ khiến chất độc trong cơ thể không thải dược ra ngoài, độc tố vào máu càng làm tình hình trầm trọng hơn.
Nên kiêng ăn nhiều và kiêng sữa, yaourt khi trẻ bị tiêu chảy vì đường ruột đang yếu?
- SAI. Trẻ bệnh nói chung cần ăn nhiều hơn bình thường để mau phục hồi và tăng sức đề kháng. Chỉ sử dụng sữa không đường lactose khi trẻ bị tiêu chảy kéo dài mà thôi. Yaourt hay sữa chua rất cần cho việc tái lập cân bằng vi khuẩn có lợi trong ruột trẻ lúc này. Chỉ tránh dùng các loại nước có gas nhiều đường, các thực phẩm nhiều xơ hoặc chế biến sẵn (chả, xúc xích, thịt hun khói, patê…)
Với trẻ còn bú bị tiêu chảy, cần tăng lượng sữa ăn vào và cho ăn càng nhiều càng tốt.
- ĐÚNG. Cho trẻ tiếp tục bú mẹ hoặc bú bình, tăng số lần bú. Thức ăn mềm, nấu kỹ và loãng hơn bình thường một ít.
BS. Thanh Vân
Trẻ sơ sinh nhẹ cân
Bạn hiểu gì về trẻ sơ sinh nhẹ cân? Có phải tất cả những trẻ nhẹ cân đều khó phát triển? Khi sinh ra bé nhẹ cân, bạn cần phải hiểu rõ tình trạng của bé để chăm sóc bé tốt hơn...
Thế nào là trẻ sơ sinh nhẹ cân?
Trẻ nhẹ cân là trẻ có cân nặng lúc sanh dưới 2.500gr. Trẻ có cân nặng lúc sanh giữa 1.000gr và 1.499gr gọi là trẻ rất nhẹ cân, và trẻ có cân nặng lúc sanh dưới 1.000gr là trẻ cực nhẹ cân.
Những trẻ này có thể đủ tháng hoặc non tháng, trẻ có thể bình thường hoặc có dị tật bẩm sinh đi kèm. Nguyên nhân gây nhẹ cân có thể do chậm phát triển trong tử cung hoặc không.
Các dạng trẻ nhẹ cân
Trẻ nhẹ cân được phân loại theo tuổi thai (trẻ nhẹ cân đủ tháng và trẻ nhẹ cân non tháng), theo sự cân đối (nhẹ cân cân đối và nhẹ cân không cân đối) và theo tình trạng suy dinh dưỡng (nhẹ cân có gầy mòn và không gầy mòn). Trẻ nhẹ cân dưới 37 tuần tuổi thai gọi là trẻ nhẹ cân non tháng. Trẻ nhẹ cân và không cân đối hoặc trẻ gầy mòn là những trẻ chỉ có cân nặng thấp, còn chiều cao và vòng đầu bình thường. Trẻ nhẹ cân cân đối là những trẻ giảm cả cân nặng, chiều cao và vòng đầu. Trẻ sinh đủ tháng nhẹ cân có thể cân đối hoặc không cân đối. Những trẻ non tháng nhẹ cân thường là nhẹ cân cân đối.
Quan sát trẻ nhẹ cân không cân đối sẽ thấy có sự khác biệt so với trẻ nhẹ cân cân đối. Trẻ nhẹ cân không cân đối bề ngoài trông gầy mòn, giảm mô dưới da, da nhăn, đầu to, móng dài, da khô tróc vẩy. Trẻ nhẹ cân cân đối thường có khe khớp sọ giãn, thóp trước rộng, chậm phát triển hành xương, trẻ lùn và vòng đầu nhỏ.
Những nguyên nhân làm trẻ nhẹ cân
| Khả năng phát triển thai thay đổi cũng như việc cung cấp dinh dưỡng không đủ cho thai nhi chính là những nguyên nhân làm trẻ nhẹ cân. Ngoài ra, yếu tố di truyền, môi trường... cũng sẽ làm trẻ sơ sinh nhẹ cân. |
Mặc dù có rất nhiều yếu tố di truyền, về thai, dinh dưỡng, môi trường, về nhau - tử cung có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của thai, nhưng trong một vài trường hợp, người ta không rõ nguyên nhân gây nhẹ cân. Những nguyên nhân gây nhẹ cân thường gặp là:
1. Khả năng phát triển thai thay đổi:
- Bất thường về di truyền.
- Dị tật bẩm sinh.
- Bất thường nhiễm sắc thể.
- Rối loạn chuyển hóa bẩm sinh.
- Nhiễm trùng trong tử cung.
- Tiếp xúc với chất gây ung thư hoặc thuốc.
- Rối loạn điều hòa nội tiết.
2. Cung cấp dinh dưỡng không đủ:
- Chức năng nhau không đủ.
- Đa thai.
- Sinh già tháng.
- Bất thường bánh nhau.
- Viêm bánh nhau (do vi trùng, siêu vi trùng, ký sinh trùng).
- Suy dòng máu qua bánh nhau hoặc giảm vận chuyển oxy.
- Mẹ bị sản giật.
- Mẹ bị tiểu đường, cao huyết áp, bệnh thận.
- Sống trên vùng cao.
- Mẹ hút thuốc lá.
Sự tăng trưởng thai trong 3 tháng đầu, 3 tháng giữa thai kỳ chủ yếu bị ảnh hưởng bởi khả năng phát triển liên quan đến di truyền của thai. Nhiễm trùng trong tử cung hoặc tiếp xúc độc chất (như chì) xảy ra trong giai đoạn phân chia tế bào có thể làm thay đổi khả năng phát triển liên quan đến di truyền của thai. Trẻ sinh ra từ bà mẹ có điều trị thuốc (Hydantoin, thuốc chống chuyển hóa, hoặc thuốc có cocain, heroin, alcohol) thường bị chậm phát triển.
Quá trình tăng trưởng của thai trong 3 tháng cuối ảnh hưởng chủ yếu bởi sự cung cấp dinh dưỡng qua nhau. Do đó, chúng có thể bị ảnh hưởng bởi chức năng của bánh nhau, sự thay đổi mạch máu tử cung hoặc cả hai. Chức năng bánh nhau không đầy đủ có thể do nhồi máu bánh nhau, u mạch máu, thuyên tắc mạch máu, dây rốn bất thường, nhau bong non.
| Hãy chú ý đến các bệnh lý của mẹ: sản giật, tiểu đường, cao huyết áp, thận... có thể làm thai chậm phát triển. |
Các bệnh lý của mẹ gây thay đổi mạch máu như: sản giật, tiểu đường, cao huyết áp, bệnh thận có thể gây giảm lưu lượng máu tử cung - bánh nhau và làm thai chậm phát triển. Tình trạng mẹ mập, ốm ít ảnh hưởng đến sự phát triển thai. Tuy nhiên, năng lượng bà mẹ nhận trong thai kỳ có liên quan đến sự tăng cân của mẹ, của bánh nhau và cân nặng của trẻ. Bà mẹ mang thai hút thuốc lá sẽ làm giảm rõ rệt cân nặng lúc sanh của trẻ (có thể giảm cả chiều cao và vòng đầu). Nguyên nhân có thể do áp lực của khí CO (carbon monoxide) đối với Hemoglobin cao hơn oxy, gây thiếu oxy máu thai và do tác động gây co mạch tử cung của nicotine.
Những tình trạng làm thay đổi khả năng phát triển thai hoặc gây giảm phát triển thai sớm (trước 34 tuần thai) làm giảm cả cân nặng, chiều cao và vòng đầu. Tuy nhiên, những tình trạng gây giảm cung cấp dinh dưỡng của thai hoặc giảm tưới máu tử cung - bánh nhau thường ảnh hưởng đến cân nặng trước (gây nhẹ cân không cân đối)
Hầu hết trẻ nhẹ cân cân đối không tìm được nguyên nhân, còn trẻ nhẹ cân không cân đối thường có nguyên nhân do mẹ bị sản giật, cao huyết áp.
Chức năng trẻ nhẹ cân có gì thay đổi?
| Tỷ lệ nhẹ cân ở các nước đang phát triển cao hơn ở các phát triển. Một số nơi, trẻ có cân nặng lúc sinh dưới 2.500gr chiếm tỷ lệ hơn 10%. Trong nhóm nhẹ cân, trẻ đủ tháng chiếm từ 17-80%. |
Trẻ nhẹ cân có sản phẩm nitrogen trong máu cao như ammonia, urea và acid uric, chứng tỏ có tăng dị hóa protein. Những trẻ này có rối loạn tân tạo glucose và phân hủy glycogen. Do đó, trẻ có khuynh hướng hạ đường huyết kéo dài trong nhiều tuần. Ở bào thai suy dinh dưỡng, tim, phổi, thận to hơn trẻ bình thường ở cùng cân nặng, trong khi lách, gan, thượng thận, tuyến ức thì nhỏ. Dự trữ glycogen trong tim và gan giảm, sợi cơ tim nhỏ hơn bình thường.
Tỷ lệ nhẹ cân ở các nước đang phát triển cao hơn ở các phát triển. Một số nơi, trẻ có cân nặng lúc sinh dưới 2.500gr chiếm tỷ lệ hơn 10%. Trong nhóm nhẹ cân, trẻ đủ tháng chiếm từ 17-80%.
Điều trị bệnh lý mẹ lúc mang thai, theo dõi sự phát triển thai có thể giúp giảm tỷ lệ trẻ nhẹ cân.
Trẻ nhẹ cân và nguy cơ tử vong
Các vấn đề thường gặp ở trẻ nhẹ cân là ngạt, viêm phổi, hạ thân nhiệt, hạ đường huyết, đa hồng cầu, những bệnh lý do dị tật bẩm sinh, nhiễm trùng bào thai.
Nguyên nhân chính gây tử vong là ngạt. Trẻ chậm phát triển càng nặng thì tỷ lệ thai lưu, hạ đường huyết, hạ calci/máu, da hồng cầu càng tăng đáng kể.
Trong nhóm trẻ chậm phát triển nặng, hầu hết là trẻ nhẹ cân không cân đối.
| Sự phát triển của trẻ nhẹ cân sau khi sinh cũng sẽ đặc biệt hơn trẻ bình thường. Trẻ có những thay đổi trong thành phần cơ thể và sự phát triển thần kinh bị hạn chế. |
Trẻ nhẹ cân cân đối thường bị tổn thương khả năng tăng trưởng từ giai đoạn đầu của bào thai. Còn trẻ nhẹ cân không cân đối bị tổn thương khả năng tăng trưởng chỉ trong giai đoạn ngắn ở cuối thai kỳ. Do đó, trẻ nhẹ cân không cân đối thường có dự hậu tốt hơn.
Sự phát triển sau sanh: Đa số trẻ nhẹ cân sẽ tăng trưởng nhanh, bắt kịp trẻ bình thường trong 3-6 tháng đầu sau sanh. Tuy vậy, sau giai đoạn nhũ nhi, lúc 15-18 tháng tuổi và có thể kéo dài tới 7 tuổi, trẻ nhẹ cân sẽ có cân nặng, chiều cao và vòng đầu nhỏ hơn trẻ bình thường. Nhiều nghiên cứu cho thấy tình trạng chậm phát triển trong tử cung có ảnh hưởng lâu dài đến sự tăng trưởng của trẻ.
Trẻ nhẹ cân không cân đối dễ phát triển sau sinh hơn trẻ nhẹ cân cân đối.
Những thay đổi trong thành phần cơ thể: Khi so sánh trẻ sinh non nhẹ cân và trẻ sinh non đủ cân cùng cân nặng, người ta thấy sự tăng cân của trẻ nhẹ cân bao gồm: tăng nước nhiều hơn, và tăng chất béo, chất đạm ít hơn trẻ đủ cân.
Sự phát triển thần kinh: Hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy trẻ nhẹ cân có chỉ số thông minh kém hơn trẻ đủ cân. Ở lứa tuổi học đường, trẻ nhẹ cân có chỉ số thông minh, chỉ số phối hợp nhìn, vận động, phối hợp động tác kém, khó tập trung. Trẻ nhẹ cân sinh ra từ các bà mẹ cao huyết áp, thường có đầu nhỏ hoặc vấn đề chậm phát triển thần kinh nhiều hơn trẻ đủ cân. Trẻ chậm phát triển trong tử cung có tỷ lệ chậm phát triển tâm thần cao, không có khả năng học tập lúc 12-14 tuổi.
Tóm lại, sự hiểu biết về căn nguyên, kiểu tăng trưởng, sự phát triển thần kinh tâm lý của trẻ nhẹ cân có vai trò rất quan trọng đối với cả nhân viên y tế và các bậc cha mẹ, để từ đó chúng ta biết cách chăm sóc và tạo những điều kiện tốt nhất cho trẻ phát triển bình thường.
BS. Cam Ngọc Phượng



