Viêm gan C (Phần 2)

Diễn tiến thông thường của nhiễm trùng mãn tính HCV là gì ?

Những hiểu biết của chúng ta về diễn tiến tự nhiên của HCV còn đang phát triển. Khoảng 15% bệnh nhân viêm gan siêu vi C cấp phục hồi tự nhiên (sạch hết virus). Tuy nhiên, 85% bị viêm gan mạn. Bao nhiêu người trong số những bệnh nhân này tiến triển đến xơ gan ? Có cách để tiên lượng được ai sẽ bị xơ gan không ? Và rồi, sẽ có bao nhiêu nguời bị suy gan, bao gồm cả biến chứng của xơ gan, hay ung thư gan ? Một người xơ gan rồi, liệu người đó sống được bao lâu ? Đây là những câu hỏi rất thích đáng mà không có câu trả lời rõ ràng, chỉ đánh giá vừa phải thôi.

Có vài cách để theo dõi diến tiến tự nhiên của viêm gan siêu vi C mạn, nghiên cứu hồi cứu, tiền cứu và kết hợp cả hai. Nghiên cứu hồi cứu gồm nhận biết bệnh nhân viêm gan siêu vi C mạn và xem tương xứng giữa giai đoạn hiện tại của bệnh gan với khoảng thời gian nhiễm bệnh. Vài cuộc điều tra như vậy đã đề ra rằng sau khi mắc phải HCV, phải mất khoảng 10 đến 14 năm để có được bằng chứng trên sinh thiết của viêm gan siêu vi C mạn, 20 năm để đến xơ gan, và 28 năm để thành ung thư gan.

Tuy nhiên, cũng có vài khó khăn với những nghiên cứu hồi cứu này. Ví dụ như, nghiên cứu hồi cứu có khuynh hướng chọn những người viêm gan siêu vi C có triệu chứng, đang được chăm sóc y tế. Do đó, thông tin về thời gian nhiễm trùng thật sự của những bệnh nhân này không chính xác, nghĩa là bị đánh giá thấp. Hơn nữa, nghiên cứu hồi cứu không nói lên được tỉ lệ bệnh nhân viêm gan siêu vi C tiến triển thành xơ gan, suy gan và ung thư gan.

Trong nghiên cứu tiền cứu, một nhóm những bệnh nhân viêm gan siêu vi C được theo dõi ngay từ lần đầu họ bị nhiễm. Nghiên cứu này liên quan tất yếu đến những bệnh nhân nhận máu nhiễm HCV, từ những bệnh nhân này, thời gian mắc phải sẽ được đánh giá chính xác. Tuy nhiên, việc tiếp theo của nghiên cứu khá ngắn ngũi. Hơn nữa, khi một vài bệnh nhân được điều trị kháng virus, diễn tiến tự nhiên của bệnh sẽ thay đổi theo điều trị. Dù sao đi nữa, những nghiên cứu tiền cứu này cũng đưa ra khoảng 10-25% bệnh nhân tiến triển đến xơ gan trong vòng 10 đến 15 năm sau. Ngoài ra, chỉ khoảng 10% bệnh nhân có triệu chứng về bệnh gan của họ.

Nghiên cứu hỗn hợp bao gồm nhận biết nhóm bệnh nhân đã biết viêm gan siêu vi C nhiều năm, giải thích cho hầu hết những bệnh nhân này, và theo dõi họ. Điểm thuận lợi của nghiên cứu này là có điểm khởi đầu theo dõi tiếp khi so sánh với nghiên cứu tiền cứu. Nghiên cứu hồi cứu xác nhận diễn tiến tự nhiên của viêm gan siêu vi C mạn hoàn toàn chậm và nhìn chung, biến chứng của viêm gan xảy ra theo thập kỷ, không phải hàng năm.

Mặt khác, những nghiên cứu hỗn hợp này bao gồm những bệnh nhân có máu hay những sản phẩm từ máu (ví dụ immunoglobulin) bị nhiễm. Trung bình, những nghiên cứu này thiên về bệnh nhân đã tiếp xúc với yếu tố nguy cơ trên 20 năm. Trong 2 nghiên cứu về phụ nữ viêm gan siêu vi C mạn sau khi nhận Immunoglobulin nhiễm bệnh cách đây trên 20 năm, dưới 3% bệnh nhân phát triển thành xơ gan. Một số lớn bệnh nhân chỉ có viêm gan nhẹ và không có xơ hoá gan. 1/3 bệnh nhân có tăng men gan >100 U/L (2-3 lần so với bình thường), và 1/3 bệnh nhân có xét nghiệm gan bình thường. Tuy nhiên, 1/4 bệnh nhân ghi nhận là mệt mỏi.

Theo nghiên cứu hỗn hợp này, khi xơ gan hình thành, nguy cơ phát triển thành suy gan, nghĩa là biến chứng của xơ gan, khoảng 10%/năm. Những biến chứng này bao gồm xuất huyết do vỡ dãn tĩnh mạch (thường là ở thực quản), báng bụng (dịch trong khoang bụng), bệnh não (lơ mơ), và vàng da. Nguy cơ ung thư gan ở bệnh nhân xơ gan do HCV là 1.4%/năm. Tuy nhiên, ở bệnh nhân xơ gan không biến chứng (xơ gan còn bù) có khả năng sống 10 năm là 80%. Mặt khác, xơ gan có biến chứng (thường nói đến xơ gan mất bù và suy gan) có khả năng sống sót thấp hơn, khoảng 50% trong 5 năm.

Điều không rõ ràng là yếu tố nào thúc đẩy bệnh gan mãn trong nhiễm HCV. Những nghiên cứu mới đây cho thấy rằng những người nhiễm bệnh có genotype 1b tiến triển nặng hơn, nhưng điều này không thể chứng minh được. Hơn nữa, như đã lưu ý từ trước, lượng virus trong máu không tương xứng với độ nặng của bệnh. Tuy nhiên, cái rõ ràng là dùng rượu thường, ngay cả điều độ, thì vẫn có hại cho bệnh gan mạn.

Ai có nguy cơ cao và nên kiểm tra tình trạng nhiễm virus viêm gan C ?

Trung tâm quản lý và phòng ngừa bệnh khuyến cáo rằng một vài người có nguy cơ cao nhiễm viêm gan siêu vi C nên được theo dõi và kiểm tra HCV. Họ gồm những người sau :

Đã được truyền máu của người mà sau đó xét nghiệm HCV dương tính.

Đã tiêm thuốc bất hợp pháp, dù là họ chỉ thử nghiệm một vài lần cách đây nhiều năm.

Nhận máu truyền hay ghép tạng đặc ( như gan, thận...).

Nhận chế phẩm máu vì rối loạn đông máu.

Đã lọc thận trong một thời gian (lọc máu để điều trị suy thận).

Có bệnh gan rõ ràng (tăng ALT bất thường hằng định).

Đề nghị xét nghiệm HCV ít rõ ràng ở vài người khác cũng có nguy cơ cao mắc phải HCV. Họ là những người :

Đã nhận mô ghép (ví dụ giác mạc, da, tim, thận).

Dùng cocain qua mũi và ma túy không tiêm.

Đã xăm mình hoặc xâu kim loại.

Có nhiều bạn tình và đã từng mắc bệnh lây qua đường tình dục.

Là bạn tình của người có HCV(+) nhiều năm.

Viện quốc gia về hội nghị phát triển sức khoẻ sinh học khuyến cáo rằng những người này nên đi kiểm tra HCV.

Những xét nghiệm về HCV và làm thế nào để chẩn đoán nhiễm HCV ?

Nhiều xét nghiệm HCV hiện đang được dùng. Chúng được phân loại dựa theo chức năng của từng xét nghiệm đặc biệt.

Còn về xét nghịêm tầm soát ?

Xét nghiệm tầm soát được dùng để đánh giá sự hiện diện của HCV trong máu. Kỹ thuật miễn dịch gắn men(EIA) là xét nghiệm thường qui ban đầu để chẩn đoán nhiễm viêm gan siêu vi C. EIA đo lường kháng thể đặc hiệu của những bản sao nhỏ protein của HCV (kháng nguyên). Do đó, xét nghiệm này được xem như xét nghiệm kháng thể kháng HCV. Bệnh nhân có men gan tăng (ALT/AST) và có yếu tố nguy cơ đối với HCV có thể được chẩn đoán là nhiễm HCV với độ tin cậy >95% khi EIA (+).

Mặt khác, vài bệnh nhân có suy giảm miễn dịch có thể không tìm được kháng thể HCV mặc dù họ thật sự bị nhiễm. Ví dụ, những người suy giảm miễn dịch như người đã lọc thận, người bị ung thư, người đã được hoá trị (thuốc diệt tế bào ung thư), hay người nhiễm HIV. Những người này không thể sản xuất đủ kháng thể cần thiết để EIA(+).

Khi có nguy cơ nhiễm viêm gan siêu vi C thấp, những người có xét nghiệm EIA (+) nên làm xét nghiệm xác nhận bằng kỹ thuật đặc biệt cũng nhằm tìm kháng thể kháng protein của virus. Kỹ thuật này được gọi là kỹ thuật tái tổ hợp miễn dịch (RIBA).

Tuy nhiên, cả EIA và RIBA đều không phân biệt được giữa viêm gan siêu vi C cáp, mạn hay đã phục hồi vì kháng thể kháng HCV đều có ở trong máu của cả ba trường hợp. Mặc dù cả EIA và RIBA đều là xét nghiệm đo kháng thể kháng HCV. Những kháng thể này không bảo vệ bệnh nhân tránh nhiễm HCV. Hiếm hơn, nó chỉ ra được tính phơi nhiễm của bệnh nhân đối với virus.

Xét nghiệm phân tử HCV là gì ?

Như đã mô tả ở trên, HCV là virus ARN. Mã di truyền RNA của HCV là độc nhất của virus này. Vài xét nghiệm dùng để đo HCV-RNA trong máu người. Những xét nghiệm này được xem như xét nghiệm phân tử vì chúng khảo sát virus ở mức độ phân tử. Hai hệ thống đo RNA -HCV thông thường nhất là phản ứng chuyển đổi chuỗi polymerase RNA (RT-PCR) và kỹ thuật DNA nhánh (bDNA). Gần đây, một kỹ thuật thứ 3, đựợc gọi là kỹ thuật chuyển mã trung gian (TMA) đã được đưa ra.

Đầu tiên, điều quan trọng là nhìn xa hơn tương quan giữa số lượng virus ở người bị nhiễm HCV khi so sánh với các loại nhiễm trùng mãn do virus khác. Số lượng bản sao virus trung bình trong 1ml máu của một người nhiễm HCV mạn là hàng trăm ngàn đến vài triệu. Ngược lại, một vài người nhiễm viêm gan siêu vi B tiến triển có vài trăm triệu đến hàng tỉ bản sao virus/ml máu. Nồng độ HCV trong máu thấp là một trong những lý do khiến các nhà khoa học phải mất khoảng thời gian rất lâu để biết đặc điểm của HCV.

RT-PCR là một công cụ rất tốt để dò tìm một số lượng rất nhỏ chất liệu di truyền (DNA hay RNA). Nền tảng của kỹ thuật này là khuyếch đại một đoạn acid nucleic mồi lên vài triệu lần để đoạn mồi này có thể đo lường được.Tuy nhiên, vì độ nhạy rất cao, khi lây nhiễm ít có thể gây ra dương tính giả. Mặt khác, RNA không hằng định (dễ bị thoái hóa), nên mẫu máu và mô cần được sử dụng cẩn trọng. Nếu không, sự không ổn định này sẽ dẫn đến kết quả âm tính giả, nghĩa là kết quả âm tính ở người có nhiễm HCV.

Đầu thập niên 90, mỗi phòng thí nghiệm có nhóm kỹ thuật riêng về RT-PCR và độ tin cậy của kỹ thuật này hoàn toàn thay đổi. Cho đến bây giờ, FDA vẫn chưa chấp thuận kỹ thuật RT-PCR. Tuy nhiên, các phòng thí nghiệm ngày nay vẫn dùng một trong vài dụng cụ chẩn đoán đã được tự động hoá và thiết kế để giảm khả năng lây nhiễm. Có 2 loại RT-PCR là định tính và định lượng. RT-PCR định tính HCV cung cấp độ nhạy tốt nhất, nghĩa là nó có thể phát hiện HCV với 100 bản sao virus/ml huyết thanh. Tuy nhiên, như tên gọi đã gợi ý, RT-PCR định tính chỉ cho biết HCV (+) hay HCV (-).

Ngược lại, RT-PCR định lượng đo được số lượng virus. Tuy nhiên, những xét nghiệm này chỉ chính xác trong một nhóm virus lưu thông trong máu. Điều này có nghĩa là kỹ thuật định lượng không nhạy bằng kỹ thuật định tính và chỉ có thể dò tìm khoảng 500 bản sao virus/ml. Ngoài ra, xét nghiệm này lại ít chính xác với số lượng virus lớn (>2 triệu/ml). Trong quá khứ đã có những thử nghiệm chuẩn hoá các xét nghiệm này để lượng virus được đo bởi các kỹ thuật khác nhau có thể so sánh được. Thật ra, kết quả của RT-PCR hiện nay được tính theo đơn vị quốc tế chuẩn (UI/ml).

Chuỗi DNA nhánh (bDNA) là một kỹ thuật khác về định lượng. Nó dựa trên sự khuyếch đại dò tìm các dấu hiệu hơn là tìm acid nucleic. Kết quả là, xét nghiệm này ít lây nhiễm hơn và chính xác hơn khi đo số lượng lớn virus và khi so sánh với RT-PCR. Tuy nhiên, kỹ thuật bDNA ít nhạy hơn RT-PCR và không thể đo lượng virus <200,000 bản sao /ml.

Cuối cùng, TMA là một kỹ thuật về chất lượng khác biệt PCR. Xét nghiệm này có thể đo được với 2-5 bản sao virus /ml.

Vai trò của xét nghiệm phân tử định tính ?

RT-PCR định tính là một xét nghiệm hữu ích trong xác định bệnh nhân có virus đang lưu thông trong máu hay không. Vì vậy, nó có thể được dùng để xác nhận kết quả kháng HCV (+) phản ứng, phản ánh đang nhiễm HCV hoạt động. Tuy nhiên, xét nghiệm khẳng định lại không cần thiết ở vài người có kháng thể HCV (+), có yếu tố nguy cơ và xét nghiệm gan bất thường. Trong trường hợp này, RT-PCR gần như hoàn toàn dương tính. Mặt khác, một người có kháng thể HCV và yếu tố nguy cơ nhưng xét nghiệm gan bình thường nên làm xét nghiệm kiểm tra RT-PCR. Người này có lẽ đã loại bỏ được HCV cách đây khoảng thời gian và còn lại kháng thể như một dấu ấn của lần tiếp xúc với virus trong quá khứ.

Xét nghiệm RNA-HCV định tính cũng nên được làm ở người gần đây có tiếp xúc với viêm gan siêu vi C. RNA-HCV nhạy hơn (nghĩa là dò tìm được nhiều trường hợp hơn) hơn là xét nghiệm kháng thể HCV thông thường (EIA). Lý do độ nhạy cao hơn vì một người có thể mất 6-8 tuần sau khi tiếp xúc mới có kháng thể, trong khi xét nghiệm RNA-HCV có thể phát hiện sau nhiễm 5-10 ngày. Sau cùng, xét nghiệm RNA-HCV có thể hữu ích trong việc đánh giá phản ứng bệnh nhân với virus ở thời điểm nào đó trong suốt quá trình điều trị chống virus (Xem điều trị HCV ở dưới).
(Theo BSGĐ)

0 Response to "Viêm gan C (Phần 2)"

Post a Comment