HIV (Phần cuối)

Những bệnh nhân được nhận ra có HIV quanh thời gian họ bị nhiễm đầu tiên có thể có lợi nếu liệu pháp kháng virus mạnh được cho tại thời điểm đó. Lý do cho việc bắt đầu điều trị sớm này chủ yếu là lý thuyết. Tuy nhiên, bằng chứng sơ bộ gợi ý rằng các khía cạnh độc nhất của đáp ứng miễn dịch của cơ thể với virus có thể được duy trì bởi chiến lược này. Người ta nghĩ rằng điều trị lúc bị nhiễm tiên phát có thể là một cơ hội để giúp hệ thống đề kháng tự nhiên của cơ thể chống lại virus. Do đó, bệnh nhân có thể đạt được sự kiểm soát nhiễm trùng được cải thiện trong khi đang điều trị, và thậm chí có thể sau khi ngưng điều trị. Tuy nhiên, hiện tại, những người bắt đầu điều trị lúc nhiễm trùng tiên phát sẽ cần duy trì vài dạng điều trị kháng virus vô thời hạn. Các nghiên cứu đang thực hiện để quyết định xem có hoàn cảnh nào mà ở đó việc điều trị được dừng một cách an toàn mà không gây ra tăng tải lượng virus hay không.
Lúc trước, hy vọng đến là nếu điều trị được bắt đầu từ rất sớm trong tiến trình nhiễm HIV, HIV có thể được loại bỏ hoàn toàn. Tuy nhiên, hầu hết các bằng chứng ngày nay gợi ý rằng điều này là không đúng. Do đó, điều trị sớm không thể điều trị khỏi hoàn toàn, dù các lợi ích khác có thể vẫn hiện diện. Vì thế, đề nghị hiện tại là các bệnh nhân này nên được giới thiệu đến các nghiên cứu lâm sàng nếu họ có khả năng cam kết tuân theo một chế độ điều trị hiệu quả. Tuy nhiên, nếu các tình huống tâm lý hoặc xã hội làm sự tuân thủ với điều trị như thế còn nghi ngờ, bệnh nhân tốt hơn hết là trì hoãn điều trị. Nói chung, trung bình, những người bị nhiễm có thể hy vọng vẫn còn khoẻ mạnh trong một thời gian dài. Cho dù thế nào đi nữa, bệnh nhân cần ý thức rằng việc bắt đầu điều trị sớm đặt họ vào nguy cơ xuất hiện các tác dụng phụ ngắn và dài hạn cũng như sự đề kháng với virus.
Ðiều trị HIV trong thai kỳ ra sao ?
Một trong những tiến bộ lớn nhất trong điều trị nhiễm HIV là ở phụ nữ mang thai. Trước khi có liệu pháp kháng virus, nguy cơ lây truyền HIV từ mẹ bị nhiễm sang con là xấp xỉ 25-35%. Các thuốc kháng virus không được cho phụ nữ trong 3 tháng đầu thai kỳ vì trong thời gian đó, thuốc dễ gây ra các bất thường cho thai nhi hơn. Các nghiên cứu ở đó ZDV được bắt đầu sau 3 tháng đầu thai kỳ, sau đó tiêm tĩnh mạch trong tiến trình sinh, và sau sinh thuốc được cho cho trẻ sơ sinh trong 6 tuần, đã thấy rằng nguy cơ lây lan được giảm xuống thấp hơn 10%. Mặc dù hiện có ít dữ kiện hơn về các phối hợp thuốc mạnh hơn, kinh nghiệm lâm sàng gợi ý rằng nguy cơ lây truyền có thể giảm xuống thấp hơn 5%. Các khuyến cáo gần đây là khuyên các phụ nữ mang thai mà bị nhiễm HIV lưu ý tới cả các ảnh hưởng không rõ của liệu pháp kháng virus lên thai nhi và kinh nghiệm lâm sàng hứa hẹn của liệu pháp mạnh trong việc ngăn chặn sự lây truyền. Tuy nhiên, trong phân tích cuối cùng, các phụ nữ mang thai mà có HIV nên được điều trị cơ bản như là phụ nữ không mang thai bị nhiễm HIV, ngoại trừ trong 3 tháng đầu thai kỳ.
Tất cả phụ nữ mang thai bị nhiễm HIV nên được điều trị bởi 1 nhà sản khoa có kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Các thận trong tối đa về sản khoa như tránh việc theo dõi qua da đầu và việc giảm thiểu đau đẻ sau khi vỡ màng ối có thể được thực hiện. Hơn nữa, khả năng dùng mổ bắt con nên được bàn luận, đặc biệt ở những phụ nữ không được kiểm soát sự nhiễm HIV tốt. Mổ bắt con, loại bỏ sự cần thiết sanh qua ngã âm đạo, do đó có thể tạo ra những lợi ích nữa vẫn chưa được xác định. Cũng nên ghi nhớ rằng bú sữa mẹ nên được tránh nếu sự dinh dưỡng thay thế cho trẻ là có sẵn. Dù nguy cơ lây truyền giảm cùng với liệu pháp kháng virus, các phụ nữ mang thai bị nhiễm HIV cần được khuyên bảo cẩn thận về việc lưu tâm đến tất cả các nguy cơ, cũng như tất cả các lựa chọn, bao gồm việc phá thai điều trị khi thích hợp.
Ðiều trị những người có tiếp xúc với máu hoặc dịch tiết sinh dục của một người bị nhiễm HIV ra sao ?
Gần đây, phần lớn quan tâm đã tập trung vào việc ngăn chặn sự lây lan sang những cá nhân có tiếp xúc bằng việc cho sớm những liệu pháp kháng virus. Vì nguy cơ lây nhiễm sau hầu hết các tiếp xúc đơn độc là tương đối thấp, thường thấp hơn 5%, các nghiên cứu chính thức khó thực hiện ở bệnh nhân. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên thú vật và vài kinh nghiệm ở con người gợi ý rằng điều trị sau khi tiếp xúc có thể hiệu quả. Quả thực, khuyến cáo hiện tại là các nhân viên y tế mà bị kim đâm dính dịch từ một người bị nhiễm thì dùng thuốc kháng virus trong 4 tuần để làm giảm nguy cơ lây nhiễm.
Mở rộng khuyến cáo trên, nhiều thầy thuốc đã đưa ra khuyến cáo điều trị dự phòng tương tự cho những người có tiếp xúc tình dục với HIV. Tuy nhiên, ít nhất 5 hạn chế gắn với khuyến cáo này. Ðầu tiên, điều trị sau tiếp xúc không thể được tin là ngăn được sự lan truyền HIV. Thứ hai, hiện giờ, điều trị như thế sẽ được giới hạn cho những tiếp xúc không thông thường và tình cờ, như vỡ bao cao su khi giao hợp. Thứ ba, dù các phác đồ với hai hoặc ba thuốc thường được đề nghị cho những người bị tiếp xúc trong môi trường y tế, liệu pháp tốt nhất cho tiếp xúc tình dục vẫn chưa biết rõ. Thứ tư, liệu pháp có thể sẽ tốt nhất nếu được bắt đầu trong vòng hai giờ đầu sau tiếp xúc. Thứ năm, cung cấp 4 tuần của một phối hợp gồm 3 thuốc kháng virus có giá sấp xỉ 1000 đôla, thường không được chi trả bởi bảo hiểm.
Ðiều gì có thể được làm cho người bị ức chế miễn dịch nặng ?
Mặc dù một mục tiêu của liệu pháp kháng virus là ngăn chặn sự ức chế hệ thống miễn dịch, vài bệnh nhân đã bị ức chế miễn dịch khi họ lần đầu đến khám. Những người khác tiến triển đến giai đoạn như là hậu quả của sự đề kháng với các thuốc kháng virus. Tuy nhiên, mọi nỗ lực phải được thực hiện để tối ưu hóa liệu pháp kháng virus ở tất cả những bệnh nhân này. Hơn nữa các kháng sinh đặc hiệu nhất định nên được khởi dùng, phụ thuộc vào tế bào CD4, để ngừa các biến chứng (đó là các nhiễm trùng cơ hội) đi kèm với sự ức chế miễn dịch do HIV. Các hướng dẫn cho sự phòng ngừa các nhiễm trùng cơ hội có thể được tìm thấy tại trang web www.hivatis.org
Tóm lại những bệnh nhân có số lượng tế bào CD4 < 200 nên nhận sự điều trị phòng ngừa Pneumocystis carinii (vi khuẩn cơ hội gây viêm phổi ) bằng trimethoprim/ sulfamethoxazole (BactrimTM, SeptraTM), được cho 1 lần 1ngày hoặc 3 lần mỗi tuần. Nếu họ không dung nạp với thuốc đó, bệnh nhân có thể được điều trị bằng thuốc thay thế như là dapsone, pentamidine, hoặc otovoquone (MepronTM). Những bệnh nhân có số lượng tế bào CD4 thấp hơn 100 những người mà có bằng chứng đã bị nhiễm toxoplasma, thường được xác định bởi sự hiện diện của kháng thể kháng toxoplasma trong máu, nên được cho trimethoprim/ sulfamethoxazole. Nếu họ đang uống dapsone, khi đó pyramethamine và leukovorin có thể được thêm vào phác đồ của họ 1 lần mỗi tuần. Nhiễm toxoplasma là một bệnh ký sinh trùng cơ hội mà ảnh hưởng não và gan. Cuối cùng, những bệnh nhân có số lượng tế bào CD4 thấp hơn 50 nên được điều trị dự phòng nhiễm Mycobacterium avium complex (MAC) bằng azithromycin (ZithromaxTM) mỗi tuần, hoặc một thuốc thay thế, clarithromycin (BiaxinTM) 2 lần mỗi ngày hoặc mycobutin (RifabutinTM). MAC là vi trùng cơ hội gây nhiễm trùng ở ruột, phổi, và gan.
Ðiều gì xảy ra trong tương lai cho những người bị nhiễm HIV và cho những người có nguy cơ nhiễm HIV ?
Các xu hướng tiếp tục hướng về việc làm đơn giản hóa các phác đồ thuốc để cải thiện sự tuân thủ và giảm các tác dụng phụ. Hơn nữa, nhiều thuốc mới đang được phát triển. Những thuốc mới này thuộc các nhóm thuốc hiện có sẵn cũng như các nhóm mới, như là nhóm ngăn chặn virus khỏi đi vào tế bào hoặc khỏi việc hòa hợp chính nó vào chất liệu di truyền con người. Cả hai hoạt động này ngăn chặn virus khỏi việc tự nhân lên, do đó ức chế sự tăng tải lượng virus. Thậm chí có thể quan trọng hơn, các nhà nghiên cứu đang nỗ lực để tăng cường sự đề kháng tự nhiên của cơ thể với HIV để kiểm soát sự phát triển virus. Một thí dụ của sự tiếp cận này là việc dùng vaccin HIV, có hay không có liệu pháp kháng virus. Cũng như vậy, các nghiên cứu cải tiến đang thực hiện để cố gắng làm sạch hoặc loại bỏ virus khỏi cơ thể. Lý do cho sự làm sạch là cho phép dừng điều trị mà không có tăng vọt trong số lượng các phần tử virus trong máu. Chẳng hạn, các thuốc đã phát triển để kích thích các tế bào CD4 bị nhiễm HIV, các tế bào mà sau đó hy vọng sẽ trãi qua sự tự huỷ virus hoặc miễn dịch. Mặc dù tất cả trong nghiên cứu này là thú vị và, về lâu dài, đầy hứa hẹn, thực tế là trong tương lai gần, bệnh nhân sẽ vẫn cần liệu pháp kháng virus.
Tin tốt lành là sự phát triển của liệu pháp kháng virus đã dẫn đến sự giảm rõ rệt tử vong liên quan đến AIDS ở nhiều nơi trên thế giới. Tuy nhiên, phần lớn những người bị nhiễm, không tiếp cận được những thuốc đắt tiền này. Do đó, hy vọng tốt nhất cho việc hạn chế dịch hiện tại trên thế giới vẫn là một vaccin hiệu quả. Tuy nhiên, dù những nghiên cứu trong lĩnh vực này ngày càng tăng, sự phát triển một vaccin tiếp tục đi sau sự tiến bộ mà đã xảy ra trong liệu pháp kháng virus.
Sơ lược về HIV
HIV là một loại virus được gọi là một retrovirus, gây nhiễm ở người khi nó tiếp xúc với những mô như biểu mô âm đạo, vùng hậu môn, miệng, hoặc mắt, hoặc một vết rách ở da.
Nhiễm HIV nói chung là một bệnh tiến triển chậm trong đó virus hiện diện khắp cơ thể ở tất cả các giai đoạn của bệnh.
Ba giai đoạn của nhiễm HIV đã được mô tả.
- Giai đoạn đầu (nhiễm trùng tiên phát), xảy ra trong vòng vài tuần mắc phải virus, thường được đặc trưng bởi bệnh giống "cúm" hoặc "tăng đơn nhân nhiễm trùng" mà thường hồi phục trong vòng vài tuần.
- Giai đoạn nhiễm trùng mãn tính không triệu chứng (nghĩa là một thời gian dài nhiễm trùng không triệu chứng) kéo dài trung bình 8-10 năm.
- Giai đoạn nhiễm trùng có triệu chứng, khi đó hệ thống miễn dịch (hoặc đề kháng) của cơ thể đã giảm đến nổi các biến chứng xuất hiện, được gọi là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS). Các triệu chứng là do các biến chứng của AIDS, chúng bao gồm 1 hoặc nhiều hơn các nhiễm trùng hoặc ung thư không thông thường, sút cân nhiều, và sút giảm trí tuệ.
Khi HIV phát triển (nghĩa là tự sinh sôi), nó đòi hỏi khả năng thay đổi (đột biến) chính cấu trúc của nó. Sự đột biến này làm cho virus có thể trở nên kháng với liệu pháp thuốc hiệu quả trước đó.
Mục đích của điều trị thuốc là ngăn chặn sự huỷ hoại hệ miễn dịch bởi virus HIV và để chặn đứng hoặc làm chậm sự tiến triển của nhiễm trùng đến bệnh có triệu chứng.
Ðiều trị HIV bao gồm các phối hợp thuốc làm giảm sự phát triển virus đến một mức mà điều trị ngăn chặn hoặc làm chậm rõ rệt sự xuất hiện đề kháng của virus với thuốc.
Sự phối hợp thuốc tốt nhất cho HIV vẫn chưa được xác định, nhưng một trong những yếu tố quan trọng nhất là phác đồ phải được dung nạp tốt để nó có thể được tuân theo một cách ổn định mà không bỏ liều.
(Theo BSGĐ)



0 Response to "HIV (Phần cuối)"
Post a Comment